|
CONTENTS
|
 |
Ancient Western Philosophy
— Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University |
 |
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University |
 |
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
— History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University |
 |
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận |
 |
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University |
 |
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia
phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
— Political Philosophy
in the Period of Building
an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University |
 |
Political Economy: A Brief Overview
— Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa |
 |
The Philosophy of Language and Thought
— Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University |
 |
Aesthetics
— Mỹ học |
 |
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
The Mind-Body Problem
— Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University |
 |
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education |
 |
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Khảo
cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities |
|
|
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society
Temple University
|
|
| |
TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA VIỆT NAM
TS. Nguyễn Minh Hoàn
Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
|
|
Trong truyền tư tưởng của
người Việt Nam, tư tưởng nhân nghĩa là một
trong những tư tưởng cốt lõi phản ánh vào
đó một hệ thống các quan điểm về triết
lý nhân sinh, triết lý xã hội, triết lý chính trị, triết
lý quân sự, triết lý ngoại giao,... Tư tưởng
nhân nghĩa đạt đến một bước phát
triển mới ấy đã được thể hiện
trong tư tưởng của Nguyễn Trãi. Cũng chính
tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đã phát triển
ấy từ truyền thống tư tưởng nhân
nghĩa trong văn hoá Trung Hoa đã góp vào việc nâng tầm
tư duy truyền thống của người Việt Nam hướng đến chủ nghĩa nhân đạo.
- I. Tư tưởng nhân
nghĩa trong truyền thống triêt học Trung Hoa
-
Tư tưởng nhân nghĩa xuất hiện
rất sớm trong truyền thống triết học Trung
Hoa. Những tư tưởng và những quan điểm khác
nhau về nhân nghĩa phản ánh đời sống tinh thần
của người Trung Hoa, và những quan điểm này
cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến
tư tưởng truyền thống phương Đông
nói chung trong đó có tư tưởng truyền thống của
dân tộc Viêt Nam nói riêng trong mọi giai đoạn lịch
sử đến nay.
Trong văn hóa Trung Quốc nói chung, khái niệm
"nhân" (人 và đức "nhân" (仁) là hai khái niệm gần nhau nhưng không phải
đồng nhất với nhau. Thuyết văn giải
tự giải thích chữ "nhân" (仁) mang hàm nghĩa
"hai người" thân thích, yêu thương như một
(仁 : 亲 也 。 从 人 从 二 Nhân: thân
dã, tòng nhân tòng nhị). Cũng trong Thuyết văn giải
tự, khái niệm "nghĩa" được hiểu là
mối quan hệ hài hoà lợi ích (利 者 , 義 之 和 也 lợi giả, nghĩa
chi hoà dã). Khái niệm "nghĩa" còn là sự biểu thị
mối quan hệ giữa cá nhân của cái tôi – cái "ngã" (我) và với cái quần thể cộng đồng
– mang đặc tính sống bầy đàn của loài sơn
dương (羊). Cái tôi bản ngã là cơ sở
để con người yêu thương lẫn nhau trước
khi ra nhập vào đời sống cộng đồng, vì
làm nhân trước hết là do nơi mình (为 仁 由 己). Như vậy, nhân nghĩa (仁 義) là mối quan hệ
giữa con người với chính mình (仁 lòng nhân); mối
quan hệ giữa cá nhân với cá nhân (hai người 从 人 从 二); mối quan hệ giữa con
người và cộng đồng người (nghĩa 義).
Khái niệm "nhân" và "nghĩa" trong một số
kinh điển Trung Hoa
Trong Kinh thi những quan niệm
về nhân (仁, "benevolent") và nghĩa
(義, "righteousness") đã thể hiện những tư tưởng
sâu sắc về con người và mối quan hệ giữa
những con người trong xã hội. Kinh thi là một bộ
sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa được Chư hầu sưu tầm để hiến lên Thiên tử theo kỳ
hạn năm năm một lần. Những câu thi ca
được Thiên tử tiếp nhận và liệt vào nhạc
quan, lấy đó để xét phong tục tốt hay xấu,
biết việc chính trị nên hư.
Mặc dù, nhân 仁 và nghĩa 義 trong Kinh thi
được đề cập đến rất ít, và tuy
được trình bầy tách rời nhau nhưng đều
có nghĩa chung là phẩm đức của con người
theo mệnh trời. Những khái niệm ban đầu này đã
có ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm
về con người (人) và lòng người
(đức nhân, 仁) trong tư tưởng
của người Trung Hoa. Trong câu phú 洵美且仁 (tuân mỹ
thả nhân), hay 其 人 美 且 仁 (kỳ mỹ
thả nhân) đều có nghĩa là sự tín thực, là vẻ
đẹp tao nhã, thanh lịch, sự chân mỹ, và là lòng nhân
từ; hay cũng là đức nhân của người cao
quý. Còn với điều nghĩa 義 trong bài phú 文 王 (Văn Vương, 7) viết: 命 之 不 易 、 无 遏 尔 躬 。 宣 昭 義 问 、 有 虞 殷 自 天 。 上 天 之 载 、 无 声 无 臭 。 仪 刑 文 王 、 万 邦 作 孚, thì điều nghĩa
chính
là mệnh trời nên phải được lưu hành khắp
thiên hạ để muôn nước được
hưng khởi, và người lưu hành được
điều nghĩa thì chỉ có bậc Thiên tử mà
thôi. Thế nên, vua Trụ vì cách tuyệt với điều
nghĩa nên chịu hoạ diệt vong. Cũng theo
nghĩa đó trong bài phú 荡 (Đãng, 3):文 王 曰 咨 、 咨 女 殷 商 。 而 秉 義 类 、 强 御 多 怼 。 流 言 以 对 、 寇 攘 式 内 。 侯 作 侯 祝 、 靡 届 靡 究, điều
nghĩa còn được nhấn mạnh hơn ở sự
chính đạo và đối lập với sự bất
lương, sự hung tàn. Vì thế, việc vua Ân
Thương chỉ dùng sự hung bạo, bất nghĩa
đưa đến một triều đình chỉ toàn một
lũ trộm cướp, và việc gây nên những tai hoạ
suy đồi là tất yếu.
Còn trong Kinh
thư, một bộ sách kinh điển của Nho giáo,
thì điều nghĩa lại được nhấn
mạnh là một hợp lực của sức mạnh có
nguồn gốc từ mệnh trời: 强 而 義 (cường nhi nghĩa); 同 力 , 度 德 ; 同 德 , 度 義 (đồng lực, độ đức; đồng
đức, độ nghĩa).
Cũng với ý
nghĩa là sức mạnh, trong Kinh Dịch, lòng
nhân 仁 cũng được
giải thích từ nguồn gốc của vũ trụ
siêu hình sinh thành biến hoá, và đó cũng là cái gốc của
đạo đức nhân luân. Trong Hệ từ, hạ
(系 辞下) viết:
"Đức lớn của trời là sự sinh, cái quý giá
nhất của thánh nhân là đứng vững, cái để
giữ được sự vững bền ấy chỉ
có thể là lòng nhân" 天 地 之 大 德 曰 生 , 圣 人 之 大 宝 曰 位 。 何 以 守 位 曰 仁 (Thiên hạ chi
đại đức viết sinh, thánh nhân chi đại bảo
viết lập. Khả dĩ thủ vị viết nhân).
Trong Kinh dịch, không chỉ "nhân" mới thuận theo
đạo trời đất, mà "nghĩa" cũng thuận
theo đạo trời đất. Kinh Dịch, Thuyết
quái truyện viết:< "Để lập
đạo trời thì có âm và dương, để lập
đạo đất thì có nhu và cương; để lập
đạo người, thì có nhân và nghĩa" (立 天 之 道 。 曰 阴 与 阳 。 立 地 之 道 。 曰 柔 与 刚 。 立 人 之 道 。 曰 仁 与 義) (Lập thiên chi
đạo viết âm dữ dương, lập địa
chi đạo viết nhu dữ cương, lập nhân chi
đạo viết nhân dữ nghĩa). Như vậy, so với trong Kinh thi, thì cả
hai quan niệm "nhân" và "nghĩa" trong Kinh thư đã
được quan niệm rõ hơn với cùng một nguồn
gốc ở đạo trời. Tuy nhiên, lòng nhân còn có
nghĩa là sự hợp lực sức mạnh đồng
lòng của con người để bẻ gãy được
"loại kim" ngăn cách giữa họ (二 人 同 心 , 其 利 斷 金 nhị nhân đồng
tâm kỳ lợi đoạn kim, Kinh dịch, hệ từ).
Tư tưởng nhân nghĩa của
Khổng Tử
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng
nhân, nghĩa trong Kinh thi; Kinh thư; và Kinh dịch do chính Khổng
Tử san định, trên cơ sở đó những tư
tưởng Nho gia sau này vẫn nhấn mạnh đến
giá trị của những tư tưởng về nhân
và nghĩa theo những nội dung trên đây. Tuy
nhiên, tuỳ từng điều kiện lịch sử mà những
tư tưởng nhân nghĩa sau này được thể
hiện ở những sắc thái khác nhau.
Một trong những
nội dung cơ bản của học thuyết nhân
nghĩa của Khổng Tử xuất phát từ quan điểm:
"Nhân" (仁) là "yêu người" (爱 人, ái nhân). Nhưng để
yêu người thực sự bằng lòng "Nhân" thì phải"hiểu
người" (知 人, trí nhân) "Luận ngữ, Nhan Uyên".
Do đó, "Nhân" và "Nghĩa" (義) lại có nội
dung gần nhau. Vì "Nghĩa" (義) được nhấn
mạnh là sự "cư xử cho thích hợp (nghi)"
– dựa trên việc "hiểu người" (義 者 宜也, nghĩa giả nghi dã, Lễ ký,
Trung Dung). Chính với những quan điểm
cơ bản phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân; cá nhân với cộng đồng, và cả hai mối
quan hệ đó lại đều xuất phát từ lòng
nhân và sự hiểu biết về sự đối xử
phải theo đúng lòng nhân hợp với mệnh trời, thì
đây lại chính là cơ sở của tư tưởng
công bằng - thể hiện ở điều nghĩa (義, "righteousness").
Trong tư tưởng của Khổng Tử,
chính vì nhân và nghĩa luôn thể hiện phẩm đức
của người quân tử hướng đến mối
quan hệ đề cao sự công bằng – mà cũng chính là
điều nghĩa (義, "righteousness"). Tức là, điều
nhân không chỉ là phẩm đức bên trong mà còn được
thể hiện ở việc hướng đức nhân ấy
tới hoà nhập vào môi trường của cộng đồng
người. Nhưng làm được điều ấy
đòi hỏi người có lòng nhân phải có "trí, 知" để biết tìm đến môi trường
sống đạt được hoà lòng nhân của mình với
lòng nhân của cộng đồng: (里 仁 為 美 。 擇 不 處 仁 , 焉 得 知? Lý nhân vi mỹ. Trạch
bất xứ nhân, yên đắc trí, Luận Ngữ, Lý
nhân). Đến lượt mình, "trí, 知" lại là sự
hiểu biết của người quân tử để tuỳ
thời mà càng làm cho đức nhân hậu của mình
được tăng thêm (知 者 利 仁 trí giả lợi
nhân, Luận Ngữ, Lý nhân). Hơn nữa, nếu
người quân tử bỏ mất lòng nhân thì làm sao
được gọi là quân tử?. 君 子 去 仁 , 惡 乎 成 名? (quân tử khử
nhân, ố hồ thành danh? Luận Ngữ, Lý nhân).
Với quan niệm như vậy thì lòng nhân chỉ
gắn với phẩm đức của người quân tử.
Và để giữ được lòng nhân, đòi hỏi
người quân tử phải làm theo những tôn chỉ: Người
có lòng nhân phải "khắc chế lòng tư dục, làm
theo điều lễ, để mọi người trong
thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức
nhân. Vậy lòng nhân là do nơi mình, có phải do ở
người khác đâu?" (克 己 复 礼 为 仁 。 一 日 克 己 复 礼 , 天 下 归 仁 焉 。 为 仁 由 己 , 而 由 人 乎 哉? khắc kỷ phục
lễ vi nhân, nhất nhật khắc kỷ phục lễ,
thiên hạ quy nhân yên, Luận ngữ, Nhan Uyên). Khổng
Tử quan niệm không chỉ người quân tử mới có lòng
nhân mà còn phải đem lòng nhân đó thực hiện khắp
trong thiên hạ, trước hết là với những
người thân với mình: "đạo nhân, nghĩa là
người, trước hết phải yêu thương
người thân của mình" (仁 者 人 也 , 亲 亲 为 大 Nhân giả nhân dã,
thân thân vi đại, Lễ ký, Trung dung). Và thực
hiện được lòng nhân còn thể hiện ở việc
"đề cao tu dưỡng bản thân để đưa
trăm họ đến cuộc sống thái bình" (修 己 以 安 百 姓 tu kỷ dĩ yên
bách tính, Luận ngữ, Hiến vấn). Nhưng người
quân tử không chỉ "tu kỉ" theo điều nhân mà còn "thi
hành lòng nhân đến trăm họ, cứu tế đến
cả nhân gian" (博 施 于 民 而 能 济 众 bác thi ư dân nhi
năng tế chúng, Luận ngữ, Ung dã).
Nhưng việc đối xử hợp với điều
nghĩa phải theo lẽ công bằng (義, "righteousness") từ người
thân cho đến người trong thiên hạ luôn phải xuất
phát từ sự đối xử bình đẳng giữa người
và người. Đó là sự đối xử với
người chẳng khác gì như đối xử với
chính mình: "Mình muốn đứng vững thì làm cho
người đứng vững, mình muốn thông đạt
thì cũng làm cho người thông đạt" (己 欲立 而 立 人 , 己 欲 达 而 达 人 Kỷ dục lập
nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân,
Luận
ngữ, Ung dã), và làm theo lòng nhân theo cách ấy
cũng chính là thực hiện được điều
nghĩa – sự công lý (義, "righteousness").
Nhân và nghĩa trong quan niệm của Khổng
Tử có nội dung và mục đích gần với nhau. Nếu
đức nhân muốn được thể hiện
đúng đắn thì đòi hỏi người quân tử
phải có sự hiểu biết – "trí, 知". Ngược lại,
thực hiện việc nghĩa cũng vì mục đích thực
hiện lòng nhân với trăm họ (務 民 之 義 vụ dân chi
nghĩa, Luận ngữ, Ung dã), và làm được
điều đó có thể đạt đến điều
"trí" (可 謂 知 矣 khả vị tri
hĩ, Luận ngữ, Ung dã). Cũng chính bởi chỉ
người quân tử mới "khắc kỷ"; "tự kỷ"
mà có được sự hiểu biết để thực
hiện điều nhân, nghĩa, nên người quân tử
mới phân biệt được những điều phải
trái không thiên vị, tức thực hiện được
"lẽ công bằng" (義, "righteousness") đã nói trên. Vì thế
"duy chỉ có bậc
nhân từ mới biết yêu người và ghét người
một cách chính đáng" (唯 仁 者 能 好 人 , 能 惡 人 duy nhân giả
năng hảo nhân, năng ố nhân, Luận ngữ, Lý
nhân). Với
mục đích thực hiện điều nghĩa – lẽ
công bằng ấy – là ở sự quên mình "vong tư", thế
nên "kẻ sĩ thấy nguy hiểm lao vào cứu mạng
chỉ nghĩ tới điều nghĩa chứ không tới
nghĩ tới điều lợi" (士 見 危 致 命 , 見 得 思 義 sĩ kiến nguy
trí mạng, kiến đắc tư nghĩa, Luận ngữ,
Tử Trương). Đây chính là điều để
phân biệt giữa bậc quân tử và kẻ tiểu nhân,
vì việc nghĩa chỉ của người quân tử mà
không phải của hạng thứ dân (君 子 喻 於 義 , 小 人 喻 於 利 quân tử dụ
ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi, Luận ngữ,
Lý nhân). Cũng vì lẽ đó, "người
quân tử ra làm quan là để thi hành cái nghĩa lớn
trung quân ái quốc mà thôi, chứ không phải mưu cầu
phú quý" (君 子 之 仕 也 , 行 其 義 也, Quân tử chi
sĩ dã, hành kỳ nghĩa dã, Luận ngữ, Vi tử Nhưng với quan niệm như trên đã thấy,
vì nhân; nghĩa đều là mệnh trời nên "mục
đích của thực hiện việc nghĩa đích thực
là đạt đến cái đạo" (行 義 以達其道 hành nghĩa dĩ
đạt kỳ đạo, Luận ngữ, Quý thị).
Tư tưởng của Mạnh
Tử về nhân nghĩa
Kế tục những tư tưởng của
Khổng Tử về nhân, nghĩa với tư cách là thực
hiện lẽ công bằng thể hiện ở mối quan
hệ của lòng nhân bên trong hướng ra thực hiện
việc nghĩa nơi ngoài (何 以 謂 仁 內 義 外 也 Hà dĩ vị nhân nội, nghĩa ngoại dã, Mạnh Tử,
Cáo Tử thượng), Mạnh tử đã đưa
ra tư tưởng đầy đủ hơn về sự
gắn liền giữa nhân và nghĩa, hay đó cũng
chính là tư tưởng "nhân nghĩa" (仁 義, "righteousness"). Với quan niệm ấy, Mạnh
Tử đã nhấn mạnh chủ yếu đến sức
mạnh của nhân nghĩa nhằm vào mục tiêu việc gạt
bỏ được chiến tranh bạo tàn, củng cố
ổn định trật tự xã hội. Trong tình huống
ấy của xã hội đương thời, mục tiêu
lớn nhất là: "dùng nhân nghĩa thuyết phục vua Tần
và vua Sở vui lòng nghe theo sẽ bãi hết các sư đoàn
của tam quân. Binh lính trong tam quân ấy sẽ hướng
theo điều nhân nghĩa. Rồi đến, kẻ làm
tôi vì mộ nghĩa nên thờ vua. Kẻ làm con vì mộ nhân
nghĩa nên thờ cha. Kẻ làm em vì mộ nhân nghĩa nên
thời anh. Như vậy, vua tôi, cha con, anh em, rốt cuộc
đề bỏ tuyệt điều lợi" (先 生 以 仁 義 說 秦 楚 之 王 , 秦 楚 之 王 悅 於 仁 義 , 而 罷 三 軍 之 師 , 是 三 軍 之 士 樂 罷 而 悅 於 仁 義 也 。 為 人 臣 者 懷 仁 義 以 事 其 君 , 為 人 子 者 懷 仁 義 以 事 其 父 , 為 人 弟 者 懷 仁 義 以 事 其 兄 , 是 君 臣 、 父 子 、 兄 弟 去 利 , 懷 仁 義 以 相 接 也 。 然 而 不 王 者 , 未 之 有 也 。 何 必 曰 利?Mạnh Tử,
Cáo tử hạ). Cũng vói mục đích nhằm tránh cho xã
hội rơi vào thảm cảnh chiến tranh liên miên,
Mạnh Tử khuyên người làm Vua: "hà tất
phải nói tới lợi? Chỉ cần nói tới nhân
nghĩa mà thôi" (王 何 必 曰 利 ? 亦 有 仁 義 而 已 矣 Vương hà
tất viết lợi? Diệc hữu nhân nghĩa nhi
dĩ hĩ, Mạnh Tử, Lương Huệ Vương, thượng). Với những
quan điểm ấy thì khái niệm nhân nghĩa luôn
đối lập với khái niệm đoạt "lợi"
(利) dẫn đến
sự "bất nghĩa" (bất công) (不 義, "unrighteousness").
Nhưng Mạnh Tử lại cực lực
phản đối việc người ta dùng điều nghĩa
義, "righteousness") để đánh đồng mối quan
hệ giữa các hạng người đã luôn được
xác định bằng mối quan hệ hai chiều về
quyền và nghĩa vụ theo thứ bậc tôn ti giữa
họ. Khi phê phán thuyết "vị ngã" (為 我) của phái Dương chu; đặc
biệt là thuyết "kiêm ái" (兼 愛) của phái
Mặc gia, Mạnh Tử cho rằng: "họ Dương vị
ngã là không có vua, họ Mặc kiêm ái là không có cha. Không vua,
không cha tức là loài cầm thú" (楊 氏 為 我 , 是 無 君 也 ; 墨 氏 兼 愛 , 是 無 父 也 。 無 父 無 君 , 是 禽 獸 也 Dương thị
vị ngã, thị vô quân giã; Mặc thị kiêm ái, thị vô
phụ giã. Vô phụ, vô quân thị cầm thú, Mạnh Tử, Đằng Văn
Công, hạ). Vậy trong quan điểm của mình,
Mạnh Tử đã cho thấy điều nghĩa không
phải là mực thước để đo sự bình
quân, mà phải trở thành mực thước quy
định mối quan hệ hai chiều giữa các
hạng người khác nhau trong xã hội một cách công
bằng theo đúng điều nghĩa (義, "righteousness") để duy trì
được một xã hội có trật tự thứ
bậc.
Tư tưởng Đạo
gia về nhân nghĩa
Nhưng đây không phải duy nhất Mạnh
Tử dùng khái niệm "nhân nghĩa", mà bên cạnh đó
tư tưởng của Lão gia, Mặc gia,.. cũng có khái
niệm "nhân nghĩa" của mình. Mặc dù, mỗi
trường phái có một cách quan niệm về "nhân
nghĩa" nhưng những quan niệm khác nhau ấy vừa
có điểm chung, vừa có sắc thái riêng.
Với Lão Tử, nhà tư tưởng sáng lập
trường phái Đạo gia, người sống cùng thời
với Khổng Tử, cũng cho rằng nhân nghĩa là
bắt nguồn từ mệnh trời, nhưng Lão Tử
không cho rằng nhân nghĩa là đức lớn của trời,
vả lại "có nhân nghĩa là do đạo trời bị
phế bỏ" (大 道 废 , 有 仁 義 đại đạo
phế, hữu nhân nghĩa). Vì vậy, nhân nghĩa không phải
để đem ra thi hành trong thiên hạ, mà ngược lại
phải đoạn tuyệt với nó để trở lại
với đạo trời. Thế nên: đoạn thánh bỏ
trí, dân lợi trăm lần; Đoạn nhân bỏ
nghĩa, dân trở lại hiếu thuận; Bỏ trí xảo,
bỏ điều lợi, đạo tặc không còn (绝 圣 弃 智 , 民 利 百 倍 ; 绝 仁 弃 義 , 民 复 孝 慈 ; 绝 巧 弃 利 , 盗 贼 无, Đạo đức
kinh, 19). Nói cách khác, nếu người quân tử của
Nho giáo phải có hiểu biết "trí" (知) về nhân
nghĩa, thì ngược lại Đạo gia không cần
biết "bất trí" (不 知) đến nhân
nghĩa thì mới thực sự là sống có nhân nghĩa –
đúng theo lẽ công bằng (仁 義, "righteousness"). Bởi
vì, trong xã hội lý tưởng ấy—thời chí đức—"dân chúng như bầy nai hoang dã. Họ đoan chính mà không hề
biết đó là nghĩa; họ thương yêu lẫn nhau
mà không hề biết đó là nhân; họ thành thực mà
không hề biết đó là trung; họ đảm
đương việc mà không hề biết đó là tín; họ
hành động chất phác và sử dụng lẫn nhau mà
không hề biết đó là ban tặng" (民 如 野 鹿 。 端 正 而 不 知 以 為 義 , 相 愛 而 不 知 以 為 仁 , 實 而 不 知 以 為 忠 , 當 而 不 知 以 為 信 , 蠢 動 而 相 使 不 以 為 賜 , 莊 子 • 天 地). Như vậy, nội
dung tư tưởng nhân nghĩa của Đạo gia nhấn
mạnh đến sự thuần phác của con người.
- II. Tư tưởng nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi trong truyền thống tư
tưởng Việt Nam
-
Tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi (阮 廌 1380–1442) được
hình thành từ một hệ thống các quan điểm của
triết lý nhân sinh, triết lý xã hội, triết lý chính trị,
triết lý quân sự, triết lý ngoại giao,. . . và là tất
cả những triết lý trong một thể thống nhất
ấy lại được bao trùm bởi cả một
vũ trụ quan ông. Như vậy, tư tưởng của
Nguyễn Trãi là sự thống nhất giữa đạo
trời và đạo người thể hiện
chung ở chủ nghĩa nhân đạo. Hệ thống
các quan điểm trong tư tưởng của Nguyễn
Trãi là kết quả của sự kế thừa quan điểm
triết học truyền thống phương Đông nói
chung, của dân tộc nói riêng. Tư tưởng nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi đã trở thành một
tư tưởng nhân nghĩa tiêu biểu nhất của
truyền thống tư tưởng dân tộc, bởi nó
chính là sự hội tụ những tư tưởng nhân
nghĩa của dân tộc truyền lại, rồi tiếp
tục lưu chảy trong truyền thống tư tưởng
nhân nghĩa của người Việt Nam sau này.
Tư tưởng nhân nghĩa ấy của
Nguyễn Trãi đã được thể hiện trong một
số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Quân trung từ
mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập,
Quốc âm thi tập, Dư địa chí.
Trước hết, tư tưởng nhân
nghĩa vẫn luôn thể hiện tư tưởng nhân
nghĩa truyền thống, bởi nhân nghĩa vẫn là cái
gốc của đạo trời, nên "Bại nghĩa
thương nhân, trời đất cơ hồ muốn dứt" (敗 義 傷 仁, 乾 坤 幾 乎 欲 息, Bình Ngô đại cáo). Nhân nghĩa cũng
vẫn là cái gốc của đạo người lãnh
đạo, người cai trị dân, vì: "Ðạo làm tướng
lấy nhân nghĩa làm gốc"; cho nên đó cũng chính là
cái gốc của sự ứng xử của người
lãnh đạo, của bậc quân vương đối với
người dân: "Phàm mưu việc lớn phải lấy
nhân nghĩa làm gốc, viện công to phải lấy nhân
nghĩa làm đầu" (Lại thư trả lời Phương
Chính). Mục
đích "an dân" được thực ở người
quân tử theo đạo trời để bảo vệ sự
sống (an dân), rằng: "đại đức hiếu
sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi
đánh dẹp cốt để an dân" (Thư dụ hàng
(các tướng sĩ) thành Bình Than). Phải chăng đây
vẫn là sự thể hiện tư tưởng mà trong Kinh
dịch, Hệ từ hạ đã viết (天 地 之 大 德 曰 生 thiên địa chi
đại đức viết sinh).
Lòng nhân nghĩa đó trong tư tưởng của
Nguyễn Trãi chính là sức mạnh bảo vệ quốc
gia dân tộc, được thể hiện bởi vai trò
của bậc trung quân ái quốc. Đây cũng là tư tưởng
đã được thể hiện trước đó ở
thời kỳ chống sự xâm lược của nhà
Nguyên. Hịch tướng sĩ (諭 諸 裨 將 檄 文 Dụ chư tì tướng hịch văn) cũng nhấn mạnh:
"Tự cổ các bậc nghĩa sĩ trung thần đã
từng diệt thân để cứu nước" (自 古 忠 臣 義 士 以 身 死 國 何 代 無 之 Tự
cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc
hà đại vô chi).
Trong thực tiễn của lịch sử dân
tộc Việt Nam, lúc tình huống càng nguy cấp trước
sự xâm lược, thì càng là lúc mà lòng nhân nghĩa thể
hiện được sức mạnh to lớn, và vẫn tất yếu
giành được thắng lợi: "Chính lúc cờ nghĩa nổi
lên, đương khi thế giặc mạnh" (義
旗 初 起 之 時, 正 賊 勢
方 張 之 日 nghĩa kỳ sơ khởi chi thời,
chính tặc thế phương trương chi nhật, Bình
Ngô đại cáo); "kẻ nhân giả lấy yếu chế mạnh,
kẻ nghĩa giả lấy ít địch nhiều".
Lý do này cũng là ở sức mạnh của nhân nghĩa,
vì "yếu"
chỉ là kém hơn sức mạnh quân sự, nhưng mạnh
hơn bởi sự hợp lực đức nghĩa của
"kẻ nhân giả" (仁 者). Còn "ít" chỉ là nhỏ hơn về số
người, nhưng mạnh hơn cũng bởi sự hợp
lực sức mạnh lòng nhân của "kẻ nghĩa giả"
(義 者). Quả đúng là đức nhân và
việc nghĩa là một sức mạnh: 强 而 義 (cường nhi nghĩa); 同 力 , 度 德 ; 同 德 , 度 義 (đồng lực,
độ đức; đồng đức, độ
nghĩa); và (二 人 同 心 , 其 利 斷 金 nhị nhân đồng
tâm kỳ lợi đoạn kim).
Nhưng tư tưởng nhân nghĩa truyền
thống Việt Nam, còn là việc dùng sức mạnh nhân
nghĩa để chống bạo tàn: "Lấy đại
nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân làm biến đổi
cường bạo" (以 大 義 而
勝 兇 殘, 以 至 仁 而 易
彊 暴, Bình Ngô đại cáo). Sức mạnh nhân
nghĩa được thực hiện bằn thu phục nhân
tâm của kẻ xâm lược: "công tâm" (攻 心). Mặc dù đây
là tư tưởng trước đó đã được
nói đến ở thời Tam Quốc (攻 心 為 上 , 攻 城 為 下 ; 心 戰 為 上 , 兵 戰 為 下 công
tâm vi thượng, công thành vi hạ; tâm chiến vi thượng,
binh chiến vi hạ). Nhưng tư tưởng "công tâm" mà
Nguyễn
Trãi nhấn mạnh đã được nâng thành tư
tưởng có tầm chiến lược và được
sử dụng như một nghệ thuật.
Việc vận dụng quan điểm nhân
nghĩa như một nghệ thuật trong tư tưởng
của Nguyễn Trãi thể hiện ở chỗ nhân
nghĩa vừa là phương tiện vừa là mục
tiêu. Nhưng cũng chính vì là nghệ thuật dùng nhân
nghĩa trong điều kiện thực tiễn lịch sử
phải là sức mạnh được tập trung vào công
cuộc giải phóng dân tộc, đó là: "dùng quân nhân
nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội". Đặc
biệt, trong hoàn cảnh đó phải thực hiện cả
"quyền mưu làm gốc để trừ kẻ gian tà";
và "nhân nghĩa làm gốc để giữ vững bờ
cõi" (權 謀 本 是 用 除 奸 仁 義 維 持 國 勢 安 Quyền mưu bản
thị dụng trừ gian; nhân nghĩa duy trì quốc thế
an). Cũng chính vì nhân nghĩa để thắng hung tàn, mà
quyền mưu thì dùng trừ gian, do đó "quyền mưu"
chính là nhân nghĩa trong thời kỳ chống xâm lược.
Tư tưởng nhân
nghĩa thể hiện theo tinh thần trên còn bao hàm cả
sự khoan dung. Khi Nguyễn Trãi soạn Chiếu thư cho
vua Thái tổ đã giải quyết tốt tình huống
bang giao với phương Bắc ngay sau khi nước nhà
giành độc lập:
Lúc ấy, các Tướng sĩ và nhân dân ta,
đều thâm thù sự tàn bạo của người Minh,
nên đều mật khuyên Hoàng đế nhân dịp giết
chết cả đi. nhưng ngài dụ rằng:
"Việc
phục thù trả oán, là tình thường của mọi
người, nhưng không ưa giết người, là bản
tâm của người nhân. Huống chi người ta
đã hàng, mà mình lại giết chết, thì còn gì bất
tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả
giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết
kẻ hàng mãi tới đời sau, chi bằng hãy cho sống
ức vạn mạng người, để dứt mối
chiến tranh tới muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử
sách, tiếng thơm sẽ truyền tới ngàn thu, há chẳng
đẹp lắm ư?". Các bầy tôi đều bái phục
độ lượng khoan hồng của Hoàng đế."
Lấy việc thực hiện tinh thần
nhân nghĩa thời kỳ này so với thời trước
đó vào thời Trần thì tinh thần nhân nghĩa trên đây
trong tư tưởng Nguyễn Trãi là đỉnh cao phát
triển tư tưởng nghĩa.
"Trong lịch sử đời Trần có vụ
sau khi nhà Nguyên thất trận hai lần nên phải chịu
hòa hiếu bang giao với nước ta. Vua Nhân Tôn liền
sai quan đưa bọn tướng tá tù binh Mông Cổ về
Tàu như Tích Lệ, Cơ Ngọc, Phàn Tiếp. Riêng tướng
Ô Mã Nhi là tên đã giết hại nhiều người Việt,
để rửa hận cho nhân dân Việt nên vua mới
dùng mưu của Trần Hưng Đạo đem ra giữa
bể rồi sai người đánh đắm thuyền
cho chết đuối. Về sau vua Dực Tôn (1829–1883) xem
hồ sơ vụ này có phê bốn chữ "Bất nhân phi
nghĩa".
Tuy nhiên, mục tiêu cao nhất của việc
thực hiện nhân nghĩa chính là để "an dân" (安 民). Nhưng chưa hết, thực hiện
phương tiện nhân nghĩa để thực hiện
mục tiêu an dân đã tạo một nấc thang mới
trong sự phát triển tư tưởng nhân nghĩa thể
hiện tinh thần nhân đạo cao cả, khi mà việc
nhân nghĩa không phải chỉ tuyệt đối hoá ở
mệnh trời, được thể thông qua người
quân tử như trong tư tưởng truyền thống,
mà ở Nguyễn Trãi thì: "việc nhân nghĩa cốt ở an
dân" (仁 義 之 舉, 要 在 安 民), cần được hiểu
rằng: cốt ở yên dân (要 在 安 民 yếu tại an dân) là nhân
nghĩa xuất phát từ chính việc người thay cho
mệnh trời, mà ở đây chính là dân lành? Xuất phát từ
quan điểm đó là tư tưởng thể hiện
lòng biết ơn dân: "Ăn lộc đền ơn kẻ cấy
cày". Tất nhiên, lòng biế đã có trong tư tưởng
Nho giáo: "Bách
tính không đủ ăn thì vua đủ ăn sao
được" (百 姓 不 足 , 君 孰 与 足? bá tính bất túc
quân thục dữ túc, Luận Ngữ, Nhan Uyêt ơn dân không phải chỉ
có riêng của Nguyễn Trãi, màn),
nhưng lòng biết ơn dân cũng là mục đích an dân,
vì dân, lo cho dân, để rồi: "nơi thôn cùng xóm vắng không một tiếng
hờn giận oán sầu".
Ngay trong thời đại của mình vào thế
kỷ XV, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
đã được thực tiễn trả lời những
giá trị của nó, không dừng lại ở đó, cho đến
nay những tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị.
|
|
|