CONTENTS
Ancient Western Philosophy
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
Political Philosophy in the Period of Building an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University
Political Economy: A Brief Overview
Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa
The Philosophy of Language and Thought
Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University
Aesthetics
— Mỹ học
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
The Mind-Body Problem
Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Khảo cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences)
 Center for Vietnamese Philosophy > Handbook on Philosophy Last update: 2007-10-14 
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University
 

Nháp
Một vài nét về Lịch sử Tư tưởng

Triết học Đạo đức của Việt Nam

PGS.TS. NguyễnThế Kiệt
Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

Đạo đức không sinh ra từ đạo đức mà nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. Các giá trị đạo đức là kết quả của các mối quan hệ giữa người và người trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Như Ăngghen nhận xét "Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học đạo đức không chỉ dừng ở chỗ truy tìm nguồn gốc của nó trong điều kiện kinh tế - xã hội của thời đại mà nó phản ánh mà còn phải chú ý đến nguồn gốc kế thừa, sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái tư tưởng.

Để hiểu đúng bản chất của tư tưởng triết học đạo đức Việt Nam, trước hết cần nghiên cứu cơ sở kinh tế - xã hội mà nó phản ánh trực tiếp, cũng như nguồn gốc kế thừa của nó.

Một là, sự hình thành và phát triển đạo đức truyền thống Việt Nam trên cơ sở nền tảng của quá trình dựng nước và bảo vệ phát triển đất nước.

Điều kiện tự nhiên: Việt Nam với vị trí địa lý và đặc điểm về địa hình, khí hậu, tài nguyên, sinh thái, là một thiên nhiên nhiệt đới gió mùa phong phú đa dạng, chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức với con người (nền sản xuất nhỏ manh mún được tiến hành trong những điều kiện thiên nhiên nhiệt đới giàu có, nhưng mặt khác cũng hết sức khắc nghiệt). Con người Việt Nam vừa thích nghi, vừa khai phá những tài nguyên và những mặt thuận lợi của thiên nhiên để mở mang phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác phải liên kết lại trong cuộc đấu tranh khôi phục những trở ngại của thiên nhiên, chống thiên tai. Có người nói, hoàn cảnh khó khăn đã rèn luyện cho con người. Không đúng, chính nỗ lực chủ quan của con người để khắc phục khó khăn thông qua hoạt động thực tiễn mới rèn luyện con người Việt Nam đem lại cho họ những đức tính; những phẩm chất để tồn tại và chiến thắng. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh điều đó. Hàng triệu người luôn luôn được tập hợp lại để bảo vệ nhà cửa, mùa màng và sinh mạng. Hàng ngàn cây số đê đã nói lên ý chí đoàn kết và chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống thiên tai.

Mặt khác, lịch sử Việt Nam là lịch sử chiến thắng oanh liệt giặc ngoại xâm. Hiếm có dân tộc nào trên thế giới phải chống ngoại xâm nhiều lần như Việt Nam. Tổng số thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang với những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc, đã lên trên 12 thế kỷ. Các cuộc kháng chiến diễn ra trong so sánh lực lượng rất chênh lệch, trong hoàn cảnh chỉ có một cơ sở vật chất tương đối nhỏ bé, đất không rộng, người không đông, cuộc chiến đấu hết sức ác liệt. Do đó, con đường sống còn và chiến thắng của dân tộc ta phải biết phát huy sức mạnh toàn dân, sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc. Truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường bất khuất được phát huy cao độ. Trong lịch sử Việt Nam, mô hình nhân cách đạo đức của người anh hùng cứu nước chống giặc ngoại xâm là mô hình mang tính phổ biến và được đề cao hơn cả. Hình tượng các vị anh hùng dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... đã in đậm trong nền văn hoá đạo đức Việt Nam.

Xã hội phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau. Ứng với mỗi giai đoạn của lịch sử phát triển là một hình thái kinh tế - xã hội. Sự tiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội của mỗi nước mang những nét đặc thù có ảnh hưởng đến sự phát triển văn hoá, ý thức, trong đó có ý thức đạo đức.

Trong thời cổ đại, Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. Quan hệ nô tỳ tức chế độ nô lệ gia trưởng có phát triển trong mức độ nào đó, nhưng không bao giờ trở thành quan hệ chi phối, thống trị của xã hội, do đó để lại dấu ấn nhất định trong mối quan hệ cũng như tình cảm của con người. Chế độ phong kiến Việt Nam hình thanh gắn liền với sự xuất hiện và thống trị của phong kiến phương Bắc và trưởng thành cùng với các trào lưu chống phong kiến phương Bắc, giành độc lập cho dân tộc. Trong thời kỳ thống trị của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản có nảy sinh và phát triển trong một mức độ nào đó, nhưng Việt Nam không trải qua một thời kỳ thống trị của chủ nghĩa tư bản. Do đó, chủ nghĩa dân tộc tư sản có ảnh hưởng nhất định, nhưng không giữ vai trò chi phối đạo đức truyền thống của dân tộc.

Hai là, vai trò của các hệ tư tưởng.

Hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Đặc biệt, từ thế kỷ XV về sau, chế độ phong kiến chuyển sang mô hình chế độ quân chủ Nho giáo với vai trò chi phối của hệ tư tưởng Nho giáo và nó có nhiều ảnh hưởng đối với đời sống văn hoá, tinh thần của Việt Nam. (Tất nhiên, các nhà Nho Việt Nam vì công việc xây dựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp nhận, khai thác những yếu tố Nho giáo cho phù hợp với xã hội và đất nước mình, phải "bản địa hoá, Việt Nam hoá). Tuy nhiên, mô hình lý tưởng về con người do Nho giáo nhào nặn đã để lại dấu ấn rất đậm trong thế giới quan, nhân sinh quan, nền nếp tư duy, cung cách ứng xử của nhiều thế hệ không cứ họ có thông kinh sử hay không. Có thể nói, chế độ phong kiến Việt Nam dựa trên nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tồn tại hàng ngàn năm đã xây dựng cho nó một trật tự. Đó là trật tự khắt khe của những quan hệ gia trưởng, là trật tự phản nhân đạo, nghiệt ngã. Nó mang đặc điểm hoài cổ, cực kỳ bảo thủ và trì trệ, nó đã tạo nên khuô n thước chật hẹp, gò bó mọi tư tưởng tình cảm con người.

Ba là, sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá dân tộc Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam có một nền văn hoá lâu đời, mang bản sắc riêng, đầy sức sống và đã từng có những mặt phát triển cao, ví dụ: nghệ thuật đúc trống đồng, các tri thức về nông nghiệp, y học, kỹ thuật quân sự... Trong phong tục tập quán, có những phong tục tập quán mang bản sắc dân tộc, duy trì tinh thần cộng đồng trong dân tộc và trong công xã nông thôn. Những thuần phong mỹ tục cùng với toàn bộ nền văn hoá ấy nói lên những nét hồn nhiên, chất phác, yêu đất nước, yêu con người, lạc quan yêu đời và đậm đà tình nghĩa.

Theo đề tài KHXH-01-10, Việt Nam là một quốc gia đa tộc người. Mỗi dân tộc có vốn văn hoá riêng, tạo nên những vùng địa - tộc người rất phong phú, đa dạng. Nhưng do yêu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm và do sự giao lưu, hội nhập văn hoá, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vẫn có mẫu số chung của một nền văn hoá thống nhất trong tính đa dạng, một ý thức chung về vận mạng cộng đồng.

Ở đây phải kể đến tác động của nền nghệ thuật dân gian (ca dao, tục ngữ...), những phong tục tập quán.

Khái quát lại: Trong ca dao tục ngữ Việt Nam thể hiện những điểm chính sau:

  • Sự chi phối có tính bao trùm của quan hệ cộng đồng.
  • Ý thức cá nhân, ý thức về bản ngã, cái tôi đã bắt đầu xác định - tính cụ thể trực quan là biểu hiện đậm nét trong tư duy dân gian.
  • Có xu hướng tiếp cận quan điểm duy vật.
  • Truyền thống coi trọng trung thực, thủy chung, nhân ái là nét nổi bật trong lối sống của người Việt Nam.

Với các yếu tố văn hoá ở ngoài vào (Nho giáo, Phật giáo) thì vừa tiếp thu vừa có bài bác. Tuy nhiên ngay trong các mặt tiếp thu đã có thay đổi nhất định về nội dung.

Một vấn đề đặt ra là, Việt Nam có truyền thống sáng tạo không?

Ý kiến 1: Truyền thống của Việt Nam là truyền thống bắt chước, không sáng tạo. Họ cho rằng lý luận tư tưởng Việt Nam là sử dụng nhiều khái niệm phạm trù phương Đông chủ yếu là triết học Trung Quốc, Ấn Độ.

Một số nhà triết học Việt Nam nhắc nhiều tam cương, ngũ thường, họ nhìn mô hình Nhà nước phong kiến Việt Nam, cách tổ chức, cơ cấu xã hội, đời sống tinh thần có nét giống Trung Quốc.

Ý kiến 2: Có truyền thống sáng tạo, và sáng tạo vô song. Bởi vì, không sáng tạo thì làm sao sống cạnh nước lớn luôn luôn có ý thức đồng hoá và xâm lược. Không sáng tạo làm sao đánh thắng được giặc ngoại xâm hùng mạnh, giữ vững được nền độc lập. Chế độ phong kiến Việt Nam đứng vững trước hoạ xâm lược là một kỳ công. Không sáng tạo thì làm sao giữ vững được bản sắc văn hoá dân tộc. Hơn nữa, đối với Nho giáo, các khái niệm phạm trù của Nho giáo đã được các nhà tư tưởng Việt Nam vận dụng và bổ sung, cơ cấu lại trong điều kiện Việt Nam, đã được "Việt Nam hoá".

Bốn là, tam giáo đồng nguyên và xu hướng hỗn dung các tôn giáo với hệ tư tưởng ở Việt Nam.

Đạo Nho du nhập vào Việt Nam: do người Hán đưa vào xem như là công cụ bảo vệ thống trị của họ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Nho giáo từ ngoài vào từ công cụ của kẻ xâm lược đã được các nhà Nho các nhà tư tưởng Việt Nam biến nó thành công cụ của các triều đại sau xây dựng đất nước, vì nó đáp ứng được vấn đề chính trị xã hội, xây dựng đất nước.

Nho giáo Việt Nam hoà hợp cùng với Phật giáo, Lão giáo và văn hoá bản địa dân tộc Việt Nam, nó đã được "Việt Nam hoá".

Phật giáo Việt Nam khoảng đầu thế kỷ thứ I bằng hai con đường: Từ phương Nam lên do các nhà sư Ấn Độ theo thuyền buồn vào, con đường thứ hai là từ Trung Quốc truyền sang. Ở đây các nhà tư tưởng đã chú ý khai thác triết lý của đạo Phật nhằm tạo ra hệ tư tưởng để trị quốc an dân chống xâm lược. Mặt khác Phật giáo hoà nhập với Tôn giáo bản địa, để lại dấu ấn trên các mặt văn hoá tinh thần của đất nước ảnh hưởng đến tâm lý phong tục và nếp sống ở đông đảo nhân dân các làng xã.

Lão giáo vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ II mang mầu sắc Đạo giáo. Đạo giáo vào Việt Nam vừa chịu ảnh hưởng của Đạo gia, đồng thời kết hợp với thần đạo của người Việt.

Ở đây, các đạo vào Việt Nam không còn nguyên xi, nó kết hợp với thần học Việt Nam, nó được cải biến phù hợp với đặc điểm của dân tộc.

Một vấn đề đặt ra vì sao tam giáo đồng nguyên được ở Việt Nam (đây là ba đạo khác nhau về nguồn gốc, nội dung, nhưng đều được các chính quyền phong kiến công nhận).

Có ý kiến cho rằng Đạo Phật được người Việt chấp nhận để đối tượng với Nho giáo. Nói như vậy là không đúng bởi vì tại sao sự kết hợp này cũng diễn ra ở Triều tiên, Trung Quốc, Nhật trước kia.

Vấn đề này chúng ta phải giải quyết từ khía cạnh thế giới quan: Nho giáo là học thuyết về chính trị đạo đức xã hội. Phật giáo là học thuyết về tâm linh giải thoát. Lão giáo là học thuyết về thoả mãn giải thoát con người và tự do tự tại của con người. Mỗi học thuyết đều giải đáp một khía cạnh của cuộc sống do đó con người Việt Nam cần kiến giải toàn diện cuộc sống để đáp ứng nhu cầu của mọi mặt của con người.

Trần Thánh Tông: "Để giải quyết việc đời phải dựa vào tiên thánh (Đạo nho). Để giải quyết vấn đề sống, chết, hoạ phúc phải dựa vào Đạo Phật".

"Các bậc thánh những đời trước cùng các vị đại sư không khác nhau. Thế thì đủ biết giáo lý của Đức Phật ta lại phải mượn tụng thánh nhân đời trước đó để truyền bá ở đời này."

Ngài nêu sự tương đồng tam giáo về mặt hành thiện.

Ngô Thì Sĩ nêu tam giáo nhất nguyên: "Đạo phạt chủ trương từ bi, Đạo gia chủ trương thanh tịnh, Nho giáo lấy thuyết nhân nghĩa.

Nhập thế, xuất thế tác dụng khác nhau mà tính thì cùng 1. Đạo lý chỉ có 1 mà thôi.

— Thế kỷ 18 trạng nguyên Trịnh Tuệ (thời Lê Trịnh): làm quan tể tướng vẫn xưng là Trúc lâm cư sĩ. Ông viết tam giác đồng nguyên. "Nhà Nho có tam tài, nhà Phật có tam thế, nhà Đạo có Tam thanh chẳng khác gì trời có mặt trời, trăng sao, như vạc ba chân, quan hệ mật thiết nhau không tách rời nhau.

Cần chú ý là: Tam giáo đồng nguyên từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV Phật giáo là chủ đạo, từ XV - XVIII, Nho giáo là chủ đạo.

Những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội kể trên là cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng triết học đạo đức Việt Nam. Đó là tinh thần yêu nước, tinh thần nhân đạo cao cả, tinh thần đoàn kết cộng đồng sâu sắc, tính trung thực khiêm tốn giản dị, thủy chung, cần kiệm sáng tạo trong lao động, tính hiếu học...

Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học đạo đức Việt Nam có thể nhấn mạnh mấy điểm sau:

— Trong các giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức là ưu trội là cốt lõi và là phẩm chất nhân cách con người Việt Nam.

— Tư tưởng yêu nước được xem là cốt lõi cơ bản phổ biến và cao nhất, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cổ kim, đặc trưng cơ bản của lịch sử tư tưởng nói chung, lịch sử tư tưởng đạo đức nói riêng thể hiện rõ ở ba tác phẩm chính.

Bài thơ trên sông Như Nguyệt, "Tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của Việt Nam của Lý Thường Kiệt .

"Hịch tướng sĩ văn" của Trần Quốc Tuấn .

"Bình ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi.

Tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam thể hiện ở các mặt sau:

— Nhận thức về dân tộc, dân tộc độc lập.

— Những quan niệm về nhà nước của một quốc gia độc lập và ngang bằng với phương Bắc.

— Những nhận thức về nguồn gốc và động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước.

— Coi trọng vai trò dân trong việc giữ gìn và bảo vệ, phát triển đất nước. Lý Công Uẩn: "Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân. Nguyễn Trãi: "Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân". "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân".

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VIII nhấn mạnh: "Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng này, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống" [1].

Tuy nhiên, trong thang giá trị đạo đức Việt Nam cổ truyền cũng bộc lộ nhiều hạn chế của một nền văn hoá đạo đức xây dựng trên cơ sở xã hội nông nghiệp và luôn luôn phải tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm. Nó chủ yếu đề cao phẩm chất chiến đầu "Chống giặc cứu nước" mà ít nhiều xem nhẹ những phẩm chất lao động, xây dựng làm giàu cho đất nước. Các giá trị đạo đức được đề cao là các giá trị cộng đồng còn các giá trị cá nhân còn mờ nhạt (các chủ thể đạo đức con người, nhân dân, con người tập thể, con người tổ quốc, con người quần chúng, con người tông tộc được đề cao hơn con người cá nhân, phẩm chát cá nhân, ý kiến cá nhân, sáng kiến cá nhân, cuộc sống cá nhân). Các giá trị đạo đức tách rời các giá trị khác, thay thế các giá trị khác hoặc được tuyệt đối hoá trong đời sống xã hội (tốt gỗ hơn tốt nước sơn, cái nết đánh chết cái đẹp...). Tình cảm yêu nước mang đặc trưng đậm nét cộng đồng với các quan hệ huyết tộc, láng giềng, thân quen đã tạo nên một tình cảm hướng nội của người nông dân Việt Nam. Tính năng động và những yếu tố khác lạ lại rất ít được chú ý, ít được khuyến khích mà thường bị chê trách. Những hạn chế trên đã cản trở quá trình xây dựng hình thành đạo đức mới và con người mới.

Từ khi giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam lại có điều kiện để nâng lên một tầm cao mới do được hấp thụ hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại. Cũng từ đây, một nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân – đạo đức cộng sản xuất hiện, chứa đựng đầy đủ nhất các yếu tố tốt đẹp của đạo đức truyền thống và những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Hơn lúc nào hết, các giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt là tinh thần yêu nước được phát huy cao độ, đồng thời mang một nội dung hoàn toàn mới - nội dung xã hội chủ nghĩa.

2- Hợp đồng và việc kế thừa, phát triển giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là tượng trưng cho sự tiếp nối giữa giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc với tinh hoa triết học và văn hoá nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Bằng sự uyên bác với thiên tài trí tuệ và phẩm chất của mình, Người đã tiếp thu một cách nhuần nhuyễn các tri thức ấy, rồi nhào luyện trong thực tiễn cách mạng Việt Nam và biến thành một cái gì thực sự độc đáo mang tên Hồ Chí Minh, biến thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Từ đạo đức Hồ Chí Minh, nền đạo đức Việt Nam đã mang bản chất mớị Người gọi đạo đức cách mạng, là gốc, là nền tảng của người cách mạng, là "nguồn gốc" làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn. Theo Người, "có sức mới gánh nặng và đi được xa, có đức mới hoàn thành nhiệm vụ", "phải có cái đức để đi đến cái trí", vì khi đã có cái trí, hiểu biết về khoa học, chủ nghĩa Mác, phương pháp cách mạng... thì cái đức chính là cái bảo đảm cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp thuận, đã đi theo.

Trong việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã chọn lọc để phát huy những mặt tốt, từ bỏ những mặt tiêu cực đồng thời cách tân, bổ sung những nhân tố mới cho phù hợp với thực tiễn và thời đại. Điều đó thể hiện ở một số mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước truyền thống: Hồ Chí Minh đã cơ cấu lại, đã phát huy cao độ những giá trị đạo đức truyền thống trong các chuyển biến mới của dân tộc, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật và các phong trào lớn đang dâng lên cuồn cuộn ở thể kỷ XX; phong trào dân chủ, phong trào giải phóng dân tộc và phát triển xã hội chủ nghĩa [2]. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, đã gắn tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đã phát huy khí phách hào hùng của cả dân tộc, kế tục tốt đẹp của ông cha, đó là:

— Hồ Chí Minh đã vượt qua chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa yêu nước cũ; xác lập trong ý thức xã hội một chủ nghĩa yêu nước mới, khác hẳn với tinh thần "vị quốc", yêu nước gắn liền với tinh thần quốc tế. Từ đây, Người đặt cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong việc lựa chọn con đường mới để địa phương dân tộc mà các văn nhân, chí sĩ trước đây không thành công vì chưa kết hợp được một cách đúng đắn các năng lượng giải phóng của dân tộc với các năng lượng giải phóng quốc tế [3].

— Quan điểm về giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giải phóng dân tộc bao gồm cả cộng đồng dân tộc sống trên giải đất này, giải phóng đồng bào miền xuôi, miền ngược, miền Bắc, miền Nam. Yêu nước gắn liền với nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân... Bản thân Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, không chỉ trong hành động, trong lời nói mà cả trong mọi lĩnh vực giao tiếp văn hoá, ở đâu Người cũng phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa yêu nước truyền thống gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

— Người coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới: Chủ nghĩa yêu nước thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tinh thần quốc tế trong sáng yêu cầu tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Khi mỗi quốc gia thực hiện lợi ích của dân tộc mình, không xâm lược đến lợi ích dân tộc khác, quốc tế khác. Người không chỉ quan tâm và chiến đấu cho con người Việt Nam mà còn quan tâm chiến đấu cho những con người, những dân tộc cùng cảnh ngộ như Việt Nam. Tinh thần quốc tế trong sáng trong đạo đức Hồ Chí Minh đã làm cho uy tín của Người vượt khỏi biên giới Việt Nam. Thế giới tìm về Người, ngưỡng mộ và đi theo lý tưởng của Người. Tuy nhiên như Người khẳng định: "Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày" [3]. Điều đó có nghĩa là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước [3].

Thứ hai, tinh thần tập thể cộng đồng. Trong tư tưởng, tình cảm, hành động, chủ trương chính sách của Người, hiện lên rất rõ dấu ấn sâu sắc tinh thần tập thể cộng đồng kếp hợp nhuần nhuyễn với ý thức cách mạng, cụ thể là:

— Quan tâm nhiều đến cộng đồng, nhấn mạnh nghĩa vụ cá nhân với cộng đồng. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm quê hương gắn liền với lòng yêu nước, với tinh thần cộng đồng dân tộc, cộng đồng quốc gia. Người ôm ấp một gia đình rộng lớn Việt Nam, Người sống bằng tâm hồn của cộng đồng dân tộc, đau nỗi đau của dân, buồn nỗi buồn của dân, chịu khổ trước dân, hưởng thụ sau dân. Bác sĩ Vũ Đình Tụng một nhân sĩ Công giáo có con hy sinh trong chiến đấu, Người viết thư thăm hỏi: "Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi, tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt 1 đoạn ruột" [4]. Người giáo dục công dân coi làng xã là nhà, h ợp tác xã là nhà, thầy thuốc phải như mẹ hiền, người chỉ huy, người chính trị viên phải thương yêu chiến sĩ như anh em ruột.

— Phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc sâu sắc, tinh thần khoan dung, rộng mở trong giao lưu văn hoá tư tưởng, tinh thần bao dung, tôn trọng các tôn giáo. Người khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công". Trước lúc đi xa, trong di chúc Người còn nhắc nhở chúng ta, " đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta... cần giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".

— Tinh thần cộng đồng thân ái [5] không còn giới hạn trong phạm vi "người trong một nước" như trước kia. Quan hệ tình nghĩa gia đình không phải chỉ thể hiện trong phạm vi gia đình mà còn thể hiện trong phạm vi thế giới, "thế giới đại đồng".

— Tinh thần tập thể gắn liền với tinh thần dân chủ, bình đẳng và khác về chất với tính cộng đồng mang tính đẳng cấp thứ bậc trước kia. Bản thân người tự ví mình: như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mặt trận, "cán bộ các cấp là công bộc của dân, vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của nhân dân". Người rất thích khí phách anh hùng và thái độ tôn trọng con người trong hai câu thơ của Lỗ Tấn.

Hoành mi lãnh đối thiên phu chỉ
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu

Tức là, người chiến sĩ cách mạng trước kẻ địch hung dữ đến đâu vẫn trợn mắt coi khinh, còn đối với quần chúng nhân dân thì cúi đầu làm trâu ngựa.

Người còn nhấn mạnh: "việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh" [6].

Thứ ba, tinh thần nhân ái. Dân tộc Việt Nam vốn yêu quý con người, coi "người ta là hoa, đất", "thương người như thể thương thân"...

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa và nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh có một số đặc điểm sau:

Một là, lòng yêu thương con người, trước hết là những người cùng khổ nhất trong xã hội. Và, Người cho rằng, phải hoà vào quần chúng lao khổ bị nô dịch để thức tỉnh và khơi nguồn sức mạnh, tìm ra vũ khí tinh thần, vật chất để giải phóng họ. Đúng như Mông-ta-rông ca ngợi: "cụ Hồ Chí Minh là chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói thèm khát một cuộc sống cho ra người... Cụ dạy cuộc chiến đấu vì nhân phẩm và tự do phải được đặt lên trên mọi cuộc chiến đấu khác. Cụ đã bênh vực những ai yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ" [7]. Đó là tinh thần nhân văn cách mạng, nhân văn chiến đấu để giải phóng nhân loại đau khổ bằng chính lực lượng của họ.

Hai là, ý thức giải phóng cho dân tộc mình, đất nước mình là vấn đề lớn nhất, bao trùm nhất trong chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh. Với Hồ Chí Minh yêu người phải gắn với yêu dân, yêu nước nồng nàn, yêu thương nhân loại, một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là "làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Nhà báo Úc Bớc-xét nói: "Nói tới một người cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh" [7].

Ba là, thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người là nét đặc trưng bao trùm nhất trong chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh. Đó cũng là cơ sở của tinh thần đoàn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Hồ Chí Minh xuất phát từ yêu cầu cấp bách giải phóng dân tộc mình rồi từ đó đi đến giải phóng tất cả các dân tộc thuộc địa, giải phóng giai cấp vô sản để đi đến xã hội cộng sản. Mục tiêu đó quan xuyến cả cuộc đời Hồ Chí Minh.

Bốn là, yêu thương con người thể hiện trước hết ở sự tin tưởng, kính trọng nhân dân.

Trong cuộc đời Bác, lòng yêu thương Người dành cho đồng bào, đồng chí, các tầng lớp nhân dân thật mênh mông. Bằng lời nói và việc làm, bằng sự chỉ đạo nêu gương, Người đã chỉ cho mọi người thấy thế nào là đạo đức cao đẹp. Người quan tâm giáo dục con người, khuyến khích cái tốt, khuyên người làm điều thiện, chống cái ác. Người tạo điều kiện, động viên, dìu dắt, nâng cao tâm hồn và tình cảm đồng bào, đồng chí. Mọi người đều cảm thấy mình lớn lên và tự hào trước tấm gương đạo đức của Người. Người giáo dục nhân dân tinh thần quốc tế trong sáng, không bài ngoại, không cố chấp hận thù... Người đề cao tính chất thiêng liêng của phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam, đánh giá cao những người có công dựng nước, giữ nước của dân tộc. Người nêu cao cái thiêng của chủ nghĩa nhân văn hiền thần để ngăn chặn cái ác, lấy cái cao cả thiêng liêng ở cõi vĩnh hằng để khơi dậy nghĩa vụ cao quý nơi trần thế. Tinh thần bao dung của Hồ Chí Minh trước cuộc sống tâm linh của con người là như vậy.

Năm là, trong chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh, sự thương yêu con người gắn bó, hoà nhập với thiên nhiên và muôn vật, hoà nhập giữa thiên thời địa lợi với nhân hoà. Về điều này, Người không những đã kế thừa những gì tốt đẹp nhất của dân tộc và nhân loại, mà đã đi trước thời đại. Mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo soi vào Hồ Chí Minh đều cảm thấy có những giá trị nhân văn của mình trong đó.

Có thể nói, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh kết thành diện mạo đạo đức của thời đại mang tên Người là những tư tưởng đã cơ cấu lại các giá trị đạo đức truyền thống hoà quyện với tinh hoa đạo đức nhân loại và được nâng lên một tầm cao mới. Cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành một sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam./.

Chú thích

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, BCHTƯ khoá VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 56.
  2. Xem Tư tưởng Hồ Chí Minh: Truyền thống dân tộc và nhân loại. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 56.
  3. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, T., tr. 172.
  4. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 4. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 264.
  5. Xem Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: Truyền thống dân tộc và nhân loại. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 63.
  6. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 4. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 30.
  7. Xem Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chí Minh. Tập 3. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 276-279, 235.
 
 

Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Gladfelter Hall, Room 1016
Temple University Philadelphia, PA 19122 Contact: vietcent@temple.edu