|
ĐẠO LÀM NGƯỜI. Triết lý nhân sinh, phương châm sống
của con người, trả lời câu hỏi: "con người
phải sống như thế nào cho phải (Đạo)?"
Trong
lịch sử tư tưởng Việt Nam, vấn đề đạo làm người luôn đặt ra và đòi
hỏi được giải quyết, bởi nó liên quan tới
cuộc sống của mỗi con người trong mỗi giai
đoạn của lịch sử dân tộc. Có nhiều
cách tiếp cận, lý giải khác nhau về đạo
làm người do lập trường, quan điểm và lợi
ích khác nhau của con người, giai cấp và thời
đại.
Ở
Việt Nam tín đồ đạo Phật cho rằng, có
hai điều trong việc tu tập đạo lý làm
người:
-
Thứ nhất: hoàn thiện bản thân; tu dưỡng
đạo đức nơi chính mình.
-
Thứ hai: có trách nhiệm với những người xung
quanh: có bổn phận đem được sự an vui, hạnh
phúc đến cho mọi người.
Để
thực hiện đạo làm người, con người
phải biết thanh lọc nội tâm, biết kiểm soát
tâm và đánh giá chính bản thân mình. Là người luôn biết
tự trách mình, tìm lỗi chính mình để sửa sai. Là
người xem xét hành vi của mình từng chút một;
điều bất thiện dù rất nhỏ cũng tránh,
điều thiện dù khó khăn đến thế nào cũng
không từ nan, và hiểu rõ ranh giới giữa điều
xấu và điều tốt.
Con
người đối với mọi người luôn khoan
dung, tử tế một cách sâu sắc, và luôn e ngại sẽ
làm người khác bị tổn thương. Tử tế
sâu sắc có nghĩa là hiểu thấu, thông cảm và chia sẻ
được những nỗi đau của người
khác. Là người độ lượng, yêu thương
con người mà không so đo hơn thiệt. Dù làm rất
nhiều việc thiện, trong lòng không hề có chút ý nghĩ
mưu cầu danh lợi phước báo. Chấp nhận
những thiệt thòi bản thân để giữ vững
đạo lý làm người.
Đạo
làm người được thể hiện trong các quan hệ
cụ thể giữa con người trong các mối quan hệ
trong gia đình, ngoài xã hội. Nếu là con cái thì đó là đạo
Hiếu đối với bố mẹ. Nếu là bố mẹ
thì đó là đạo Từ. Nếu là anh chị em
thì đó là đạo
Đễ. Nếu là vợ chồng, thầy trò, bạn bè
thì đó là đạo Nghĩa. Đạo Nhân là đạo
của người trên đối với kẻ dưới.
Đạo Trung là đạo của người dân, quan
đối với vua (ngày xưa). Ngày nay chúng ta có thể hiểu
đó là bổn phận của công dân đối với
đất nước. Người theo đạo Công giáo
lại tìm thấy đạo làm người trong lời dạy
của Chúa. Để làm người phải có đức
Nhân. Để có Nhân phải thương yêu người:
cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách
mặc, thăm viếng kẻ hoạn nạn, cho khách ở
nhờ, chuộc kẻ làm tôi, chôn cất người chết.
Trần
Văn Giàu trong Đạo làm người từ Lý Thường
Kiệt đến Hồ Chí Minh (Nxb Quân đội Nhân dân,
Hà Nội, 2006)cho rằng, yêu nước là tiêu chí hàng đầu
của đạo làm người trong lịch sử dân tộc
Việt nam.
Vào
thời Hùng Vương, do phải đấu tranh liên tục
chống thiên tai và địch hoạ, người Việt
cổ phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ
nhau trong cuộc sống. Tình doàn kết, thương yêu
giúp đỡ nhau trong cuộc sống được phản
ánh qua những chuyện thần thoại như bọc trăm
chứng; Sơn Tinh, Thuỷ Tinh; Thánh Dóng; An Dương Vương
xây thành ốc Cổ Loa...
Tinh
thần yêu nước, bất khuất đấu tranh chống
giặc ngoại xâm cũng là nét nổi trội trong triết
lý sống của người Việt thời Hùng Vương.
Bà Trưng khởi nghĩa chống lại nhà Hán không phải
chỉ để trả thù chồng mà còn đền nợ
nước, gây dựng lại cơ nghiệp của Vua
Hùng.
Trong
suốt thời Bắc thuộc, sống trong cảnh bị
thống trị, lệ thuộc bởi các tập doàn phong
kiến phương Bắc, người Việt vẫn tiếp
tục sống với tinh thần doàn kết, thân ái trong
các cộng đồng gia đình, họ tộc, làng xã và nước.
Trong gia đình hình thành các giá trị đạo đức
mà mỗi thành viên tuân theo các định hướng giá trị
ấy: cha phải thương con, con phải hiếu với
cha (đạo cha con); vợ chồng phải thuận hoà (đạo
vợ chồng); anh em phải đoàn kết yêu thương
nhau (tình huynh đệ). Trong họ thì: "một giọt máu đào
hơn ao nước lã", trong làng thì: "hàng xóm láng giềng, tắt
lửa tối đèn có nhau". Với dân tộc, đất
nước thì bất khuất, kiên cường đấu
tranh chống chính sách đồng hoá, chống ách đô hộ
của các tập đoàn phong kiến phương Bắc.
Bước
sang thời kỳ xây dựng và bảo vệ quốc gia
phong kiến độc lập tự chủ từ thế
kỷ X đến XV, quan niệm về đạo làm người
của người Việt được nâng lên một tầm
cao mới. Triết lý nhân sinh truyền thống được
bổ sung bởi triết lý của Nho, Phật, Đạo nên
sâu sắc, phong phú hơn.
Những
nhà tư tưởng Việt Nam, trên lập trường của
Phật giáo, một mặt khuyên con người ta sống
phải tu tâm, mặt khác đòi hỏi cái tâm ấy phải
hoà đồng với cái tâm chung của thiên hạ. Lời
khuyên của vị quốc sư trên núi Yên Tử đối
với Trần Thái Tông: "đạo làm quân vương phải
lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của
mình, phải lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm
lòng của mình" chính là triết lý nhập thế của những
thiền sư thời Lý, Trần.
Những
người theo triết lý vô vi của đạo Lão - Trang
thì coi cuộc sống xuất thế, ẩn dật là con đường
tới hạnh phúc. Còn những nhà tư tưởng theo
Nho giáo thì đề cao trung, hiếu, xem đó là đạo
của người con hiếu, tôi trung. Thời Lý, các quần
thần dự hội thề ở đền Đồng Cổ,
hàng năm phải thề độc: "làm con bất hiếu,
làm tôi bất trung, thần linh chu diệt".
Sang
thế kỷ XV- XVI khi nhà nước phong kiến độc
tôn Nho giáo thì đạo làm người được phát
triển theo hướng trọng Nho. Các nhà tư tưởng
tiêu biểu thời này như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn
Bỉnh Khiêm đề cao nghĩa quân thần, tận trung
với vua, bởi các ông xem vua là người đại diện
cho lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Nguyễn
Trãi đề cao cương thường của Nho:
Chữ học ngày xưa quên hết dạng
Chẳng quên có một chữ cương
thường
Hay:
Bui có một lòng trung với hiếu
Mài chẳng khuyết nhuộm chẳng đen.
Lê
Thánh Tông, vị vua anh minh đề cao đức nhân, đức
hiếu trên lập trường nhà Nho: "mối lo lắng
là con hiếu vua nhân"
Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng đề cao đạo cương thường
(tam cương, ngũ thường), về sau ông phát triển
thêm, cho rằng đạo làm người phải trung
chính (trung với vua, hiếu với cha mẹ, thuận giữa
anh em, hoà giữa vợ chồng, tín giữa bạn bè, thấy
của phi nghĩa không tham, vui làm điều thiện, bao
dung, chí thành với người khác)
Từ
thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX chế
độ phong kiến Việt Nam lâm vào cảnh khủng hoảng
và suy tàn, quan niệm về đạo làm người dựa
trên lập tường của Nho giáo cũng có những biểu
hiện khác nhau.
Nguyễn
Dư [阮 𤫌/璵/嶼] - nhà tư tưởng thế kỷ XVI, một mặt
vẫn đề cao đạo cương thường của
Nho, mặt khác ông nhấn mạnh trí, nhân nghĩa của
con người: "phàm xoay cái thế thiên hạ, ở trí chứ
không phải ở sức, ở nhân chứ không phải ở
bạo". Làm người quân tử, theo ông phải tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ, trong đó tu thân là gốc.
Bởi muốn tề được gia, phải tự sửa
mình trước, khiến mình không thẹn với vợ
con, ấy là không thẹn với trời đất.
Phùng
Khắc Khoan (1528- 1613) cho rằng, làm người thì đức
trung, hiếu, nhân nghĩa phải đặt lên hàng đầu:
"bình sinh chí lớn để cả vào vua và cha", "chỉ một
tấm lòng giữ tròn trung hiếu, làm cho công danh được
mãi mãi về sau".
Ngô
Thì Nhậm (1746- 1803) đề cao đạo Nho, lấy đức
hạnh trung hiếu, nhân nghĩa làm đầu: "đạo
có gì khác đâu, trung hiếu mà thôi"; "nhân nghĩa trung chính là
đạo lớn của người...".
Nhìn
chung từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ
XVIII các nhà tư tưởng thời phong kiến ở Việt
Nam thường giải quyết vấn đề đạo
làm người trên lập trường ý thức hệ Nho
giáo, lấy cương thường, nhân nghĩa làm trọng.
Sang
thế kỷ XIX, xã hội có nhiều biến động
sâu sắc, giai cấp địa chủ phong kiến không
còn đủ khả năng lãnh đạo dân tộc đấu
tranh chống lại sự xâm lược của tư bản
phương Tây. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng vẫn nói
đến đạo làm người xung quanh giá trị yêu
nước, trung quân, nhân nghĩa.
Làm
người phải biết xả thân vì nghĩa lớn.
Nghĩa lớn chính là sự biết hy sinh cá nhân giữ trọn
nghĩa trung quân, ái quốc:
Nguyễn
Đình Chiểu nhà yêu nước tiêu biểu thế kỷ XIX
cho rằng:
"... Sống
làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc,
thấy lại thêm buồn;
Sống
làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì,
nghe càng thêm khổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái,
về theo tổ phụ cũng vinh;
Hơn
còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất
khổ..."
Làm
người khi giặc đến giày xéo quê hương
thì:
"... Sống
đánh giặc, chết cũng đánh giặc, linh hồn
theo giúp cơ binh, muôn kiếp được trả thù kia;
Sống
thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã
dành rành, một chữ ấm đủ đền công đó..."[1]
Với
các sĩ phu và văn thân cuối thế kỷ XIX thì đạo
làm người gắn với đạo vua tôi, vì vua cũng
là vì nước, họ tự nguyện dấn thân vào con đường
tranh đấu chống thực dân xâm lược Pháp, chấp
nhận sự hy sinh cả tính mạng.
Sang
đầu thế kỷ XX, khi chế độ phong kiến
mà hệ tư tưởng của nó là Nho giáo không còn sức
sống, quan niệm về đạo làm người có những
yếu tố mới. Một số các nhà Nho yêu nước
như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh gắn sự nghiệp của
đời mình vào sự nghiệp của đất nước
theo hướng duy tân. Một số người phất cờ
khởi nghĩa chống thực dân Pháp như Phan Đình Phùng,
Hoàng Hoa Thám...Nguyễn Thái Học đại biểu cho giai cấp
tiểu tư sản chủ trương bạo động
lật đổ chế độ thực dân phong kiến
mà không ngại hy sinh.
Nguyễn
Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá chủ
nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam đã tạo ra sự thay đổi
chất trong quan niệm về đạo làm người
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Để làm người, không có con đường nào
khác là tranh đấu
chống ách áp bức của thực dân và phong kiến, giải
phóng dân tộc và giải phóng giai cấp cần lao thông qua
thực tiễn cách mạng. Nhiều thanh niên Việt Nam giác ngộ lý tưởng cách mạng, chấp nhận sự hy sinh trên
con đường đấu tranh vì độc lập tự
do cho của Tổ quốc như Phạm Hồng Thái, Lý Tự
Trọng, Võ Thị Sáu...
Chủ
tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức
cách mạng sáng ngời. Cả cuộc đời Người
đã tận tuỵ quên mình vì nước. Hồ Chí Minh cho
rằng, tuỳ theo tình hình cụ thể, với các đối
tượng cụ thể thì có tiêu chuẩn khác nhau về đạo
làm người.
Đối
với người cách mạng, những phẩm chất
cần thiết phải có là:
Tự
mình phải: cần kiệm; hoà mà không tư; cả quyết
sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát; hay hỏi;
nhẫn lại (chịu khó); hay nghiên cứu xem xét; vì công
vong tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải
làm; giữ chủ nghĩa cho vững; hy sinh; ít lòng tham muốn
về vật chất; bí mật.
Khi
làm việc người cách mạng phải xem hoàn cảnh
kỹ càng; quyết đoán; dũng cảm; phục tùng đoàn
thể.
Đối
với cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là
những người đem chính sách của chính phủ, của
đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì
chính sách hay cũng không thể thực hiện được.
Vì vậy người cán bộ phải cần những phẩm
chất đạo đức cần thiết: cần, kiệm,
liêm chính, chí công vô tư. Đối với mình thì không được
tự mãn, kiêu ngạo, luôn học hỏi cầu tiến bộ.
Đối với đồng chí mình thì phải thân ái, không
bao che khuyết điểm của nhau, không hiếu danh, đố
kỵ.
Người
cán bộ phải phụng sự nhân dân, làm đầy tớ
cho dân. Muốn phụng sự nhân dân được tốt
cán bộ phải luôn gần gũi nhân dân, biết lắng
nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi
nhân dân,tổ chức tuyên truyền để dân hiểu dân
tin, học hỏi nhân dân, đấu tranh cho lợi ích chính
đáng của nhân dân. Cán bộ phải gương mẫu,
hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc,
tham gia lao động, luôn rèn luyện lập trường
tư tưởng và đạo đức cách mạng, cố
gắng học tập chính trị, văn hoá, nắm chắc
nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn. Hồ Chí Minh nhấn
mạnh: "có biết làm học trò dân mới biết làm
được thầy dân" [2].
Đối
với trí thức, Hồ Chí Minh yêu cầu phải biết
đem tri thức áp dụng vào thực tế, lý luận phải
phải đem ra thực hành, thực hành phải nhằm
theo lý luận, biết khiêm tốn, không kiêu ngạo. Người
trí thức phải yêu nước, thương dân, hy sinh đấu
tranh vì dân vì nước, gương mẫu chấp hành luật
pháp, tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.
Trí thức phải yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu
khoa học, yêu lao động và người lao động,
thật thà, dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động
và bảo vệ Tổ quốc.
Đối
với bộ đội, Hồ Chí Minh yêu cầu phải có
những phẩm chất sau:
-
Mỗi việc đều
phải theo mệnh lệnh cấp trên.
-
Tuyệt đối không đem
của công dung cho việc tư.
-
Không động đến
một cái kim, một sợi chỉ của dân.
-
Khi đến đóng, lúc
kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch
sẽ.
-
Nói năng cử động
phải lễ phép, phải kính người già, yêu trẻ
con.
-
Mua bán phải công bình.
-
Mượn cái gì phải
trả tử tế.
-
Hỏng cái gì phải bồi
thường.
-
Phải giúp đỡ dân,
bất kỳ việc to, việc nhỏ.
-
Trong bộ đội từ
trên xuống dưới phải đồng cam cộng khổ.
-
Chớ ve gái, say sưa, cờ
bạc, hút sách.
-
Phải giúp đỡ gia đìnhchiến
sĩ nơi mình đóng, phải giúp đỡ việc
tăng gia sản xuất.
Người
bộ đội phải đồng cam cộng khổ, có
ý thức kỷ luật, siêng năng tập tành, biết giữ
bí mật, đối với địch phải kiên quyết,
dũng cảm, mưu trí, đối đãi nhân đạo
với tù binh. Tóm lại người bộ đội phải
có trí, dũng, liêm, trung.
Đối
với công an cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải
có phẩm chất tư cách:
Đối
với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối
với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.
Đối
với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối
với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối
với công việc phải tận tuỵ
Đối
với địch, phải kiên quyết, khôn khéo.
Đối
với thanh niên, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có
những phẩm chất đạo đức cần thiết.
Đó là:
- Trước
hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Luôn trung với
nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng
hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng
đánh thắng.
- Phải
có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc
tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động.
- Phải
nâng cao ý thức tổ chức, giữ gìn kỷ luật.
Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến
đời sống của nhân dân.
- Điều
gì phải thì cố làm cho bằng được, điều
gì trái thì hết sức tránh.
- Có
tinh thần gan dạ, sáng tạo, vượt khó khăn
gian khổ, có chí tiến thủ.
- Phải
trung thành, thật thà, chính trực. luân khiêm tốn và giản
dị.
- Luôn
là tấm gương sang cho thiếu nhi và nhi đồng về
mọi mặt cho các em noi theo.
- Cần
chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích
riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng
và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động chân
tay. Chống lười biếng, lãng phí, xa xỉ. Chống
cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả
dối, khoe khoang.
- Phải
tin tưởng ở lực lượng và trí tuệ của
tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết
và giúp đỡ lẫn nhau.
- Kiên
quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nhĩa tự
do.
Đối
với học sinh, Hồ Chí Minh cho rằng, phải
giáo dục toàn diện về trí, mỹ, đức. Để
thực hiện giáo dục toàn diện, học sinh cần ôn
lại điều đã học, học thêm những tri thức
mới; biết phân biệt cái gì là đẹp, cái gì không đẹp;
biết yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu
khoa học, yêu trọng của công; có tính thành thật, dũng
cảm, kính thầy, yêu bạn, đoàn kết giúp đỡ
lẫn nhau; yêu kính giúp đỡ cha mẹ; tham gia những
việc có ích cho xã hội.
Từ
cách tiếp cận lịch sử có thể thấy rằng,
vấn đề đạo làm người là một nội
dung quan trọng trong triết lý nhân sinh của người
Việt Nam, có quá trình hình thành, ngày càng được bổ
sung và phát triển qua các giai đoạn lịch sử.
Trong
thời đại ngày nay, để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng
Cộng sản Việt Nam cho rằng, cần phải giáo dục, xây dựng
con người mới. Con người mới phải có ý
thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức,
sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn
hoá và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc
tế chân chính" [3]
Tiêu
chí của đạo làm người trong xã hội ngày nay đòi
hỏi sự phát triển toàn diện về chính trị, tư
tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất,
năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng,
lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống
có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng
và xã hội.
Có
thể nói, trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, ĐẠO làm người đựợc coi là giá trị "nền"
của mọi giá trị trên đời. Tuy nhiên nhận thức
về đạo làm người là một quá trình, được
bổ sung và phát triển liên tục qua các giai đoạn của
lịch sử xã hội. Quan niệm về đạo làm
người chịu sự qui định của thực
tiễn lịch sử. Quan niệm về đạo làm người
dựa trên đạo đức học mácxít và tư tưởng
Hồ Chí Minh đạt được giá trị khách quan
và khoa học, là một trong những nhân tố góp phần
thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội trong
thời đại ngày nay.
Chú thích:
[1] Theo Lê Sĩ Thắng, Lịch sử tư
tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1997.
[2] Hồ
Chí Minh toàn tập, Tập 5, tr. 418-419.
[3] ĐCSVN, Cương
lĩnh xâ ydựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1991, tr.15.
|