CONTENTS
Ancient Western Philosophy
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
Political Philosophy in the Period of Building an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University
Political Economy: A Brief Overview
Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa
The Philosophy of Language and Thought
Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University
Aesthetics
— Mỹ học
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
The Mind-Body Problem
Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Khảo cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences)
 Center for Vietnamese Philosophy > Handbook on Philosophy Last update: 2007-10-14 
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University
 

ĐẠO LÀM NGƯỜI

TS. Trần Đăng Sinh &
TS. Lê Văn Đoán
Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

ĐẠO LÀM NGƯỜI. Triết lý nhân sinh, phương châm sống của con người, trả lời câu hỏi: "con người phải sống như thế nào cho phải (Đạo)?"

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, vấn đề đạo làm người luôn đặt ra và đòi hỏi được giải quyết, bởi nó liên quan tới cuộc sống của mỗi con người trong mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc. Có nhiều cách tiếp cận, lý giải khác nhau về đạo làm người do lập trường, quan điểm và lợi ích khác nhau của con người, giai cấp và thời đại.

Ở Việt Nam tín đồ đạo Phật cho rằng, có hai điều trong việc tu tập đạo lý làm người: 

  • Thứ nhất: hoàn thiện bản thân; tu dưỡng đạo đức nơi chính mình.
     
  • Thứ hai: có trách nhiệm với những người xung quanh: có bổn phận đem được sự an vui, hạnh phúc đến cho mọi người.

Để thực hiện đạo làm người, con người phải biết thanh lọc nội tâm, biết kiểm soát tâm và đánh giá chính bản thân mình. Là người luôn biết tự trách mình, tìm lỗi chính mình để sửa sai. Là người xem xét hành vi của mình từng chút một; điều bất thiện dù rất nhỏ cũng tránh, điều thiện dù khó khăn đến thế nào cũng không từ nan, và hiểu rõ ranh giới giữa điều xấu và điều tốt. 

Con người đối với mọi người luôn khoan dung, tử tế một cách sâu sắc, và luôn e ngại sẽ làm người khác bị tổn thương. Tử tế sâu sắc có nghĩa là hiểu thấu, thông cảm và chia sẻ được những nỗi đau của người khác. Là người độ lượng, yêu thương con người mà không so đo hơn thiệt. Dù làm rất nhiều việc thiện, trong lòng không hề có chút ý nghĩ mưu cầu danh lợi phước báo. Chấp nhận những thiệt thòi bản thân để giữ vững đạo lý làm người.

Đạo làm người được thể hiện trong các quan hệ cụ thể giữa con người trong các mối quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội. Nếu là con cái thì đó là đạo Hiếu đối với bố mẹ. Nếu là bố mẹ thì đó là đạo Từ. Nếu là anh chị em thì đó là đạo Đễ. Nếu là vợ chồng, thầy trò, bạn bè thì đó là đạo Nghĩa. Đạo Nhân là đạo của người trên đối với kẻ dưới. Đạo Trung là đạo của người dân, quan đối với vua (ngày xưa). Ngày nay chúng ta có thể hiểu đó là bổn phận của công dân đối với đất nước. Người theo đạo Công giáo lại tìm thấy đạo làm người trong lời dạy của Chúa. Để làm người phải có đức Nhân. Để có Nhân phải thương yêu người: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách mặc, thăm viếng kẻ hoạn nạn, cho khách ở nhờ, chuộc kẻ làm tôi, chôn cất người chết.

Trần Văn Giàu trong Đạo làm người từ Lý Thường Kiệt đến Hồ Chí Minh (Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2006)cho rằng, yêu nước là tiêu chí hàng đầu của đạo làm người trong lịch sử dân tộc Việt nam.

Vào thời Hùng Vương, do phải đấu tranh liên tục chống thiên tai và địch hoạ, người Việt cổ phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Tình doàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống được phản ánh qua những chuyện thần thoại như bọc trăm chứng; Sơn Tinh, Thuỷ Tinh; Thánh Dóng; An Dương Vương xây thành ốc Cổ Loa...

Tinh thần yêu nước, bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm cũng là nét nổi trội trong triết lý sống của người Việt thời Hùng Vương. Bà Trưng khởi nghĩa chống lại nhà Hán không phải chỉ để trả thù chồng mà còn đền nợ nước, gây dựng lại cơ nghiệp của Vua Hùng.

Trong suốt thời Bắc thuộc, sống trong cảnh bị thống trị, lệ thuộc bởi các tập doàn phong kiến phương Bắc, người Việt vẫn tiếp tục sống với tinh thần doàn kết, thân ái trong các cộng đồng gia đình, họ tộc, làng xã và nước. Trong gia đình hình thành các giá trị đạo đức mà mỗi thành viên tuân theo các định hướng giá trị ấy: cha phải thương con, con phải hiếu với cha (đạo cha con); vợ chồng phải thuận hoà (đạo vợ chồng); anh em phải đoàn kết yêu thương nhau (tình huynh đệ). Trong họ thì: "một giọt máu đào hơn ao nước lã", trong làng thì: "hàng xóm láng giềng, tắt lửa tối đèn có nhau". Với dân tộc, đất nước thì bất khuất, kiên cường đấu tranh chống chính sách đồng hoá, chống ách đô hộ của các tập đoàn phong kiến phương Bắc.

Bước sang thời kỳ xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập tự chủ từ thế kỷ X đến XV, quan niệm về đạo làm người của người Việt được nâng lên một tầm cao mới. Triết lý nhân sinh truyền thống được bổ sung bởi triết lý của Nho, Phật, Đạo nên sâu sắc, phong phú hơn.

Những nhà tư tưởng Việt Nam, trên lập trường của Phật giáo, một mặt khuyên con người ta sống phải tu tâm, mặt khác đòi hỏi cái tâm ấy phải hoà đồng với cái tâm chung của thiên hạ. Lời khuyên của vị quốc sư trên núi Yên Tử đối với Trần Thái Tông: "đạo làm quân vương phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình" chính là triết lý nhập thế của những thiền sư thời Lý, Trần.

Những người theo triết lý vô vi của đạo Lão - Trang thì coi cuộc sống xuất thế, ẩn dật là con đường tới hạnh phúc. Còn những nhà tư tưởng theo Nho giáo thì đề cao trung, hiếu, xem đó là đạo của người con hiếu, tôi trung. Thời Lý, các quần thần dự hội thề ở đền Đồng Cổ, hàng năm phải thề độc: "làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần linh chu diệt".

Sang thế kỷ XV- XVI khi nhà nước phong kiến độc tôn Nho giáo thì đạo làm người được phát triển theo hướng trọng Nho. Các nhà tư tưởng tiêu biểu thời này như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao nghĩa quân thần, tận trung với vua, bởi các ông xem vua là người đại diện cho lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Nguyễn Trãi đề cao cương thường của Nho:

Chữ học ngày xưa quên hết dạng
Chẳng quên có một chữ cương thường
Hay:
Bui có một lòng trung với hiếu
Mài chẳng khuyết nhuộm chẳng đen.

Lê Thánh Tông, vị vua anh minh đề cao đức nhân, đức hiếu trên lập trường nhà Nho: "mối lo lắng là con hiếu vua nhân"

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đề cao đạo cương thường (tam cương, ngũ thường), về sau ông phát triển thêm, cho rằng đạo làm người phải trung chính (trung với vua, hiếu với cha mẹ, thuận giữa anh em, hoà giữa vợ chồng, tín giữa bạn bè, thấy của phi nghĩa không tham, vui làm điều thiện, bao dung, chí thành với người khác)

Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào cảnh khủng hoảng và suy tàn, quan niệm về đạo làm người dựa trên lập tường của Nho giáo cũng có những biểu hiện khác nhau.

Nguyễn Dư [阮 𤫌/璵/嶼] - nhà tư tưởng thế kỷ XVI, một mặt vẫn đề cao đạo cương thường của Nho, mặt khác ông nhấn mạnh trí, nhân nghĩa của con người: "phàm xoay cái thế thiên hạ, ở trí chứ không phải ở sức, ở nhân chứ không phải ở bạo". Làm người quân tử, theo ông phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, trong đó tu thân là gốc. Bởi muốn tề được gia, phải tự sửa mình trước, khiến mình không thẹn với vợ con, ấy là không thẹn với trời đất.

Phùng Khắc Khoan (1528- 1613) cho rằng, làm người thì đức trung, hiếu, nhân nghĩa phải đặt lên hàng đầu: "bình sinh chí lớn để cả vào vua và cha", "chỉ một tấm lòng giữ tròn trung hiếu, làm cho công danh được mãi mãi về sau".

Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) đề cao đạo Nho, lấy đức hạnh trung hiếu, nhân nghĩa làm đầu: "đạo có gì khác đâu, trung hiếu mà thôi"; "nhân nghĩa trung chính là đạo lớn của người...".

Nhìn chung từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII các nhà tư tưởng thời phong kiến ở Việt Nam thường giải quyết vấn đề đạo làm người trên lập trường ý thức hệ Nho giáo, lấy cương thường, nhân nghĩa làm trọng.

Sang thế kỷ XIX, xã hội có nhiều biến động sâu sắc, giai cấp địa chủ phong kiến không còn đủ khả năng lãnh đạo dân tộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của tư bản phương Tây. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng vẫn nói đến đạo làm người xung quanh giá trị yêu nước, trung quân, nhân nghĩa.

Làm người phải biết xả thân vì nghĩa lớn. Nghĩa lớn chính là sự biết hy sinh cá nhân giữ trọn nghĩa trung quân, ái quốc:

Nguyễn Đình Chiểu nhà yêu nước tiêu biểu thế kỷ XIX cho rằng:

"... Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm khổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ..."

Làm người khi giặc đến giày xéo quê hương thì:

"... Sống đánh giặc, chết cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã dành rành, một chữ ấm đủ đền công đó..."[1]

Với các sĩ phu và văn thân cuối thế kỷ XIX thì đạo làm người gắn với đạo vua tôi, vì vua cũng là vì nước, họ tự nguyện dấn thân vào con đường tranh đấu chống thực dân xâm lược Pháp, chấp nhận sự hy sinh cả tính mạng.

Sang đầu thế kỷ XX, khi chế độ phong kiến mà hệ tư tưởng của nó là Nho giáo không còn sức sống, quan niệm về đạo làm người có những yếu tố mới. Một số các nhà Nho yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh gắn sự nghiệp của đời mình vào sự nghiệp của đất nước theo hướng duy tân. Một số người phất cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám...Nguyễn Thái Học đại biểu cho giai cấp tiểu tư sản chủ trương bạo động lật đổ chế độ thực dân phong kiến mà không ngại hy sinh.

Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam đã tạo ra sự thay đổi chất trong quan niệm về đạo làm người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Để làm người, không có con đường nào khác là tranh đấu chống ách áp bức của thực dân và phong kiến, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp cần lao thông qua thực tiễn cách mạng. Nhiều thanh niên Việt Nam giác ngộ lý tưởng cách mạng, chấp nhận sự hy sinh trên con đường đấu tranh vì độc lập tự do cho của Tổ quốc như Phạm Hồng Thái, Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu...

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời. Cả cuộc đời Người đã tận tuỵ quên mình vì nước. Hồ Chí Minh cho rằng, tuỳ theo tình hình cụ thể, với các đối tượng cụ thể thì có tiêu chuẩn khác nhau về đạo làm người.

Đối với người cách mạng, những phẩm chất cần thiết phải có là:

Tự mình phải: cần kiệm; hoà mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát; hay hỏi; nhẫn lại (chịu khó); hay nghiên cứu xem xét; vì công vong tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững; hy sinh; ít lòng tham muốn về vật chất; bí mật.

Khi làm việc người cách mạng phải xem hoàn cảnh kỹ càng; quyết đoán; dũng cảm; phục tùng đoàn thể.

Đối với cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là những người đem chính sách của chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được. Vì vậy người cán bộ phải cần những phẩm chất đạo đức cần thiết: cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Đối với mình thì không được tự mãn, kiêu ngạo, luôn học hỏi cầu tiến bộ. Đối với đồng chí mình thì phải thân ái, không bao che khuyết điểm của nhau, không hiếu danh, đố kỵ.

Người cán bộ phải phụng sự nhân dân, làm đầy tớ cho dân. Muốn phụng sự nhân dân được tốt cán bộ phải luôn gần gũi nhân dân, biết lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi nhân dân,tổ chức tuyên truyền để dân hiểu dân tin, học hỏi nhân dân, đấu tranh cho lợi ích chính đáng của nhân dân. Cán bộ phải gương mẫu, hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc, tham gia lao động, luôn rèn luyện lập trường tư tưởng và đạo đức cách mạng, cố gắng học tập chính trị, văn hoá, nắm chắc nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "có biết làm học trò dân mới biết làm được thầy dân" [2].

Đối với trí thức, Hồ Chí Minh yêu cầu phải biết đem tri thức áp dụng vào thực tế, lý luận phải phải đem ra thực hành, thực hành phải nhằm theo lý luận, biết khiêm tốn, không kiêu ngạo. Người trí thức phải yêu nước, thương dân, hy sinh đấu tranh vì dân vì nước, gương mẫu chấp hành luật pháp, tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ. Trí thức phải yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà, dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ quốc.

Đối với bộ đội, Hồ Chí Minh yêu cầu phải có những phẩm chất sau:

  1.      Mỗi việc đều phải theo mệnh lệnh cấp trên.
  2.      Tuyệt đối không đem của công dung cho việc tư.
  3.      Không động đến một cái kim, một sợi chỉ của dân.
  4.      Khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ.
  5.      Nói năng cử động phải lễ phép, phải kính người già, yêu trẻ con.
  6.      Mua bán phải công bình.
  7.      Mượn cái gì phải trả tử tế.
  8.      Hỏng cái gì phải bồi thường.
  9.      Phải giúp đỡ dân, bất kỳ việc to, việc nhỏ.
  10.      Trong bộ đội từ trên xuống dưới phải đồng cam cộng khổ.
  11.      Chớ ve gái, say sưa, cờ bạc, hút sách.
  12.      Phải giúp đỡ gia đìnhchiến sĩ nơi mình đóng, phải giúp đỡ việc tăng gia sản xuất.

Người bộ đội phải đồng cam cộng khổ, có ý thức kỷ luật, siêng năng tập tành, biết giữ bí mật, đối với địch phải kiên quyết, dũng cảm, mưu trí, đối đãi nhân đạo với tù binh. Tóm lại người bộ đội phải có trí, dũng, liêm, trung.

Đối với công an cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải có phẩm chất tư cách:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc phải tận tuỵ

Đối với địch, phải kiên quyết, khôn khéo.

Đối với thanh niên, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có những phẩm chất đạo đức cần thiết. Đó là:

  • Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Luôn trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
  • Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động.
  • Phải nâng cao ý thức tổ chức, giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân.
  • Điều gì phải thì cố làm cho bằng được, điều gì trái thì hết sức tránh.
  • Có tinh thần gan dạ, sáng tạo, vượt khó khăn gian khổ, có chí tiến thủ.
  • Phải trung thành, thật thà, chính trực. luân khiêm tốn và giản dị.
  • Luôn là tấm gương sang cho thiếu nhi và nhi đồng về mọi mặt cho các em noi theo.
  • Cần chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động chân tay. Chống lười biếng, lãng phí, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.
  • Phải tin tưởng ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.
  • Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nhĩa tự do.

Đối với học sinh, Hồ Chí Minh cho rằng, phải giáo dục toàn diện về trí, mỹ, đức. Để thực hiện giáo dục toàn diện, học sinh cần ôn lại điều đã học, học thêm những tri thức mới; biết phân biệt cái gì là đẹp, cái gì không đẹp; biết yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công; có tính thành thật, dũng cảm, kính thầy, yêu bạn, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau; yêu kính giúp đỡ cha mẹ; tham gia những việc có ích cho xã hội.

Từ cách tiếp cận lịch sử có thể thấy rằng, vấn đề đạo làm người là một nội dung quan trọng trong triết lý nhân sinh của người Việt Nam, có quá trình hình thành, ngày càng được bổ sung và phát triển qua các giai đoạn lịch sử.

Trong thời đại ngày nay, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, cần phải giáo dục, xây dựng con người mới. Con người mới phải có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính" [3]

Tiêu chí của đạo làm người trong xã hội ngày nay đòi hỏi sự phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Có thể nói, trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, ĐẠO làm người đựợc coi là giá trị "nền" của mọi giá trị trên đời. Tuy nhiên nhận thức về đạo làm người là một quá trình, được bổ sung và phát triển liên tục qua các giai đoạn của lịch sử xã hội. Quan niệm về đạo làm người chịu sự qui định của thực tiễn lịch sử. Quan niệm về đạo làm người dựa trên đạo đức học mácxít và tư tưởng Hồ Chí Minh đạt được giá trị khách quan và khoa học, là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội trong thời đại ngày nay.

Chú thích:

[1] Theo Lê Sĩ Thắng, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, tr. 418-419.

[3] ĐCSVN, Cương lĩnh xâ ydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.15.

 

Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Gladfelter Hall, Room 1016
Temple University Philadelphia, PA 19122 Contact: vietcent@temple.edu