CONTENTS
Ancient Western Philosophy
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
Political Philosophy in the Period of Building an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University
Political Economy: A Brief Overview
Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa
The Philosophy of Language and Thought
Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University
Aesthetics
— Mỹ học
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
The Mind-Body Problem
Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Khảo cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences)
 Center for Vietnamese Philosophy > Handbook on Philosophy Last update: 2007-10-14 
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University
 

Ý THỨC CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM

PGS. TS. Trần Văn Phòng
Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

1. KHáI NIỆM Ý THỨC CỘNG ĐỒNG

Con người được sinh ra và trưởng thành từ trong cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Trong cuộc sống, bất kì một tổ chức, một cộng đồng nào cũng đều đòi hỏi mỗi người sống trong nó phải có một ý thức chung về cộng đồng thường được gọi là ý thức cộng đồng.

Ý thức cộng đồng có thể hiểu là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thói quen, cách hành xử,v.v.. thể hiện thái độ của con người, của các nhóm xã hội đối với cộng đồng. Nói cách khác đó là sự quan tâm, cư xử của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức với cộng đồng xung quanh.

Ý thức cộng đồng vốn là đặc điểm chung của nhân loại, nhưng ở Việt Nam, ý thức cộng đồng còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống còn và sức mạnh trường tồn của dân tộc trước mọi thử thách. Từ mấy nghìn năm nay, các dân tộc, các thành viên cùng chung sống trên dải đất Việt Nam có nhu cầu tự nhiên là phải cố kết nhau lại để chống chọi với thiên tai và giặc ngoại xâm, trở thành một cộng đồng bền chặt - đại gia đình các dân tộc Việt Nam, cùng nhau dựng nước và giữ nước. Đoàn kết là truyền thống từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, con người Việt Nam ý thức được mình thuộc về một dân tộc, quốc gia, ý thức về cách sống, cách dựng nước, giữ nước cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước vận mệnh dân tộc, trước đời sống cộng đồng dân tộc, điều đó giúp cho dân tộc ta trở thành một khối thống nhất vững mạnh.

2. NỘI DUNG CỦA Ý THỨC CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM

Cho đến nay, dù tiếp cận ý thức cộng đồng dưới góc độ nào (triết học, văn hoá học, lịch sử, xã hội học, tâm lý học hay khoa học chính trị...), thì các nhà nghiên cứu cũng đều chia sẻ một số điểm thống nhất là: Trong môi trường xã hội, văn hoá phương Ðông thì ý thức cộng đồng (hay "cái cộng đồng") và ý thức cá nhân (hay "cái cá nhân") là hai mặt đối lập nhưng không loại trừ lẫn nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau trong một thể thống nhất biện chứng. Cộng đồng, dù là cộng đồng lớn hay nhỏ, xét về mặt xã hội, không thể tồn tại trên cơ sở một cấu trúc đơn giản chỉ với các mối liên hệ ngang, bởi lẽ khi đó cộng đồng sẽ trở thành các tập hợp người giản đơn. Vì vậy, xét về phương diện xã hội, cộng đồng phải xác lập được một cấu trúc bền vững với các mối liên hệ ngang và liên hệ dọc phức hợp; tự bản thân cấu trúc và các mối liên hệ nội tại cũng chưa đủ điều kiện để biến bất kỳ một tổ chức hay thiết chế xã hội nào thành một cộng đồng. Tổ chức hay thiết chế đó chỉ trở thành cộng đồng khi sự vận hành của cấu trúc đó trong một môi trường xác định dựa trên những "mẫu số chung". Mẫu số chung đó là: các thành viên của nó cùng chia sẻ lợi ích chung; cùng có một hay nhiều mục tiêu chung; cùng có động cơ và ý chí chung; cùng hành động tự giác dựa trên những nguyên tắc chung; cùng có quan niệm chung đồng nhất về cộng đồng và có tình cảm gắn kết cộng đồng cao. Tất cả các yếu tố trên tạo nên sự "đồng thuận chung" (general consensus) — cơ sở của sự cố kết và sức sống của cộng đồng.

Nội dung của ý thức cộng đồng Việt Nam là sự đồng thuận cao của toàn thể nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Đó là:

  • Ðồng thuận cao trong nhận thức về tình yêu quê hương, đất nước, về trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng với quê hương, đất nước.
     
  • Ðồng thuận cao về lợi ích, trong đó phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, giữa lợi ích tập thể nhỏ ( bộ phận) với lợi ích toàn thể (cộng đồng dân tộc).
     
  • Ðồng thuận cao trong việc kiên quyết thực hiện các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước… để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng dân tộc,. . .
     
  • Ðồng thuận cao việc nhận thức và giải quyết các vấn đề chung của xã hội.
     
  • Ðồng thuận cao trong nỗ lực đương đầu với các thách thức, giải quyết các khó khăn.
     
  • Ðồng thuận cao để xây dựng và gìn giữ tình cảm gắn kết cộng đồng, cùng tạo nên định hướng giá trị chung của văn hoá dân tộc.

3. CƠ SỞ CỦA Ý THỨC CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định rằng ý thức cộng đồng cao là một trong những đặc điểm chung quan trọng nhất của văn hoá và văn hoá chính trị phương Ðông. Ý thức cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái cũng là một giá trị, một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt Nam. Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu xa từ trong phương thức sinh tồn (phương thức tổ chức xây dựng và quản lý điều hành các công trình thủy lợi — yếu tố sống còn của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nói riêng, yếu cầu cố kết chống thiên tai nói chung; yêu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm...) và từ trong phương thức tổ chức xã hội truyền thống (căn bản dựa trên các cộng đồng gia đình, dòng tộc, làng, liên làng). Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hoá chủ đạo và một truyền thống quý báu – một bệ đỡ quan trọng nhất của chủ nghĩa yêu nước — cơ sở và cội nguồn của sức sống và nội lực phát triển của dân tộc Việt Nam.

a. Điều kiện tự nhiên

Ý thức cộng đồng nảy sinh từ buổi sơ khai của những tộc người Việt (âu Việt, Lạc Việt). Ở vào một hoàn cảnh địa lý: đất nước trải dài trên bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc rộng lớn, phía Đông là biển Thái Bình Dương, phía Tây núi non hiểm trở, con người Việt Nam từ khi mở nước đến sau này đã tự ý thức phải dựa vào nhau và gắn bó với nhau trong một cộng đồng, tập thể để tồn tại và phát triển.

Do địa bàn tụ cư nằm ở khu vực Đông Nam á với hệ thống sông ngòi dày đặc, khí hậu nhiệt đới gió mùa, người Việt được thiên nhiên ưu đãi bởi nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, lượng phù sa bồi đắp cho các đồng bằng châu thổ, các loài động vật dưới biển và trên cạn phong phú. Tuy nhiên, Việt Nam cũng là một nước có điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt, với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa đông thì lạnh giá, khô hạn, gây nên các trận hạn hán, đồng ruộng khô nẻ, thiếu nước trầm trọng; mùa hè thì nóng bức, mưa nhiều gây lũ lụt, bão tố, lở đất, xói mòn…Nền khí hậu nhiệt đới âm gió mùa cũng là điều kiện thuận lợi làm phát sinh dịch bệnh, sâu hại…phá hoại mùa màng, cây cối, cướp đi cuộc sống của biết bao con người cũng như vật nuôi. Chính điều đó đã làm cho cuộc sống của người Việt hết sức khó khăn, mất mùa, đói kém, dịch bệnh… xảy ra liên miên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Do đó, con người phải làm lụng vất vả quanh năm để tồn tại.

Với phương thức sản xuất còn hết sức lạc hậu, tự cấp tự túc, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, người Việt bắt đầu tìm cách chế ngự thiên nhiên, hạn chế những thiên tai do thiên nhiên mang lại. Công cuộc chinh phục thiên nhiên của con người được bắt đầu bằng sự liên kết nhau lại của những người Việt cổ. Họ nhận thấy sự cần thiết phải sống tập trung lại với nhau, nương tựa vào nhau và sự cần thiết phải có sức mạnh của một tập thể để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt ấy. Họ đã tập hợp nhau lại để tiến hành đắp đê, ngăn sông, ngăn biển để đối phó với lũ lụt hàng năm cũng như để ngăn chặn sự xâm mặn của nước biển. Đồng thời, họ xây dựng những công trình thuỷ lợi như đào kênh, mương dẫn nước vào đồng ruộng, khắc phục hạn hán, khơi sông, ngăn dòng, đào những ao hồ nhân tạo để phục vụ mùa màng và cuộc sống. Ngoài ra, hàng năm con người còn thường xuyên phải quai đê, hộ đê, trồng rừng ven biển… Những công việc ấy đòi hỏi ý chí vì mình, vì cộng đồng, cùng sức lực không phải của một người mà phải là sự đoàn kết, chung sức của hàng nghìn, hàng nghìn người góp lại, "xây đắp hàng vạn cây số đê và thường xuyên chống lụt, chống hạn, rồi tiếp sau đó là đẩy mạnh việc khẩn hoang, khai phá vùng đất phía Nam, tăng gấp hai lần diện tích đất canh tác cho đất nước. Sự nghiệp vĩ đại đó sao có thể thành công nếu như không có sức mạnh của cộng đồng?"1.

Để tồn tại, điều kiện đầu tiên là con người phải gắn bó với nhau trong lao động, trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy, người dân Việt Nam từ xưa đến nay đã phải lao động trong những hoàn cảnh khó khăn, đồng cam cộng khổ, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Lịch sử phát triển Việt Nam từ Bắc tới Nam cho thấy, nếu con người không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau thì không thể tồn tại. Trong gian khổ, con người càng phải nương tựa vào nhau để sống, đấu tranh bảo vệ thành quả lao động của mình. Gắn bó với nhau trong lao động như vậy, con người càng thấy được thành quả lao động không phải chỉ là của riêng mình, mà đó còn là của những người lao động khác cùng với mình nữa. Chính nhờ vậy, họ ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng, từ đó, ý thức cộng đồng dân tộc dần hình thành và ngày càng trở nên bền chặt.

Lịch sử đã chứng minh ý thức cộng đồng dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm ngay từ thuở khai sinh, lập địa. Đặc biệt là sự ra đời của Nhà nước Văn Lang "xuất phát từ nhu cầu cố kết con người thành cộng đồng để vừa chống thiên tai, làm thuỷ lợi vừa tăng cường sức mạnh chống ngoại xâm" 2. Công cuộc chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại làm cho nhu cầu của con người về đoàn kết, cố kết với nhau tạo thành nguồn sức mạnh to lớn vượt qua mọi khó khăn.

Như vậy, chính điều kiện tự nhiên đã góp phần hình thành nên ý thức cộng đồng Việt Nam, đã gắn kết những con người riêng lẻ thành cộng đồng, đã gộp sức yếu ớt của tờng người thành sức mạnh cộng đồng, đã hoà ý thức của những người riêng lẻ thành ý thức chung của cộng đồng. Từ đây, những con người riêng lẻ, yếu ớt đã biết nương tựa vào nhau, cùng đồng sức, đồng lòng đấu tranh khắc phục thiên tai, dựng xây nên những công trình trị thuỷ…mà cho tới tận ngày nay tinh thần đó, ý thức đó vẫn đang được người Việt Nam tiếp tục phát huy.

b. Điều kiện kinh tế

Với một nền khí hậu nhiệt đới gió mùa vô cùng khắc nghiệt, bên cạnh sự chung sức để đấu tranh chống thiên tai, chống lại sự hà khắc của thiên nhiên, con người Việt Nam lại tiếp tục chung sức trong lao động sản xuất, làm kinh tế nhằm phát triển cuộc sống của mình.

Để đối phó với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, những người Việt cổ đã sớm tìm cách thích ứng và hoà nhập tối đa với những điều kiện thiên nhiên ấy. Đồng thời, để phát triển cuộc sống của mình, họ phải liên kết nhau lại, bỏ ra rất nhiều công sức để có thể trụ lại trên mảnh đất của mình, cùng sản xuất và tổ chức đời sống để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp văn minh. Cách thức mà người Việt cổ tiến hành đó là: "tiến hành nền sản xuất đa canh, thực hiện nhiều biện pháp thuỷ lợi nhằm bảo đảm kết quả cho mùa màng, khai thác triệt để nguồn lợi tự nhiên của nước và rừng…Trong cuộc vật lộn để kiếm sống này, trong cuộc gian lao dựng nước này đã hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp mà nổi lên là đức tính cần cù, kiên nhẫn, ý thức cộng đồng gắn bó…" 3.

Ý thức cộng đồng—một trong những nền tảng đạo lý Việt Nam—thể hiện đậm nét cơ cấu làng xã Việt Nam và phương thức canh tác kiểu làng xã. Làng xã được hình thành trên cơ sở sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước truyền thống. Làng xã được hình thành cùng với chế độ phong kiến và là một đơn vị tụ cư gồm nhiều gia đình có tổ chức để cùng cư trú, làm ăn, sinh sống. "Làng, nếu xét thuần tuý là một đơn vị hành chính thì tự nó không tạo ra ý thức cộng đồng. Chính điều kiện địa lý, lịch sử, điều kiện xã hội và phương thức sản xuất đã tạo ra ý thức cộng đồng làng xã, qua các thời kì lịch sử đã trở thành truyền thống và đạo lý của người Việt Nam"4. Một trong những ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất châu á là làng xã cổ truyền Việt Nam. Làng xã này tồn tại một cách cô lập, biệt lập, thụ động, quân bình chủ nghĩa, ít thay đổi kéo dài từ thời xa xưa cho đến thời gian gần đây. Xã hội Việt Nam trồng lúa nước trước kia được phân thành các làng xã đồng nhất như nhau vì đều sản xuất ra những sản phẩm hầu như giống nhau, nên mỗi làng đều tổ chức theo lối gia đình tự cấp tự túc, bị trói buộc bởi những xiềng xích của các quy tắc cổ truyền (lệ làng), các thành viên của làng gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống, dòng họ, quan hệ láng giềng và cả quan hệ sản xuất. Do những đặc điểm đó mà cách thức sản xuất cũng nhỏ lẻ, manh mún, sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên, độc canh khép kín. Thế nhưng, cũng nhờ tính chất quần cư kiểu làng xã ấy đã tạo cho con người có một ý thức trách nhiệm chung đối với làng xã, cùng giải quyết các công việc chung của làng xã—các công việc đòi hỏi sức mạnh của tập thể, sự đoàn kết nhất trí của tập thể - làm cho ý thức cộng đồng làng xã được hình thành. Chẳng hạn, sự liên kết nhau trong công cuộc khai phá, chinh phục những vùng đất hoang dại, đầm lầy, hoặc lấn biển thành những vùng đất trồng trọt; mặt khác, nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước đòi hỏi việc đảm bảo nước đầy đủ, không thừa, không thiếu cho cây lúa sinh trưởng. Muốn vậy, phải đoàn kết trong làng xã để đắp đê, hộ đê, đắp bờ, đào kênh, mương, rạch…để phục vụ cho canh tác. Công việc này đòi hỏi sức lực của nhiều người, đòi hỏi ý thức chung cùng hiệp sức của cả làng xã hay liên làng xã. "Khi nghiên cứu về phương thức sản xuất châu á, C. Mác đã cho rằng: Ở phương Đông việc tưới nước nhân tạo đã đòi hỏi một sự hợp sức hợp quần trên một quy mô lớn. Nhiều làng tập hợp thành một vùng, nhiều vùng hợp thành một quốc gia dưới sự chỉ đạo của một Nhà nước Trung ương tập quyền…Làng xã Việt Nam đã vượt ra khỏi thế biệt lập, khép kín vốn là đặc điểm của một nền kinh tế tiểu nông để gắn bó mật thiết với nước và là một bộ phận của nước. Vận mệnh làng gắn bó với vận mệnh của nước. Ý thức cộng đồng làng xã đã được phát triển ở một mức độ cao hơn đó là ý thức quốc gia dân tộc"5.

Tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng được gói lại trong chữ công và được mở ra hai vế: công cộng và công ích. Từ đó, toát lên trong ý thức cộng đồng người Việt Nam đó là tinh thần trách nhiệm. Làng xã là đơn vị của xã hội với nguồn nước chung, khu vực sinh sống chung, canh tác chung, nơi hội họp chung… làm cho tính cộng đồng trở lên rất mạnh mẽ có sức thu hút người dân vào một tập thể cố hữu và những công việc chung mang tính tập thể. Ngoài ra, làng – công xã nông thôn kiểu châu á mà đặc trưng hàng đầu là sở hữu công cộng về ruộng đất, ruộng công ở Việt Nam được chia định kì theo các suất đinh. Chính cái thể thức ruộng công ấy mà mỗi cá nhân thấy sự cần thiết phải liên kết với toàn thể cộng đồng. Trên cơ sở ấy, tinh thần, ý thức cộng đồng, cùng với thời gian, dần dần được "ăn sâu" vào tiềm thức con người Việt Nam.

Có thể nói, trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất, cái cộng đồng bao giờ cũng vượt lên trên cái cá thể. Từ đó, nhiệm vụ, trách nhiệm, ý thức chung về làng xã, về cộng đồng ngày càng ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam và phát huy mạnh mẽ không chỉ trong công cuộc đấu tranh với thiên tai, trong phát triển sản xuất mà còn được thể hiện đậm nét trong công cuộc đấu tranh giữ nước vĩ đại. Như vậy, công xã nông thôn là cơ sở cho việc hình thành nên ý thức cộng đồng ở cấp độ làng xã và công cuộc trị thuỷ, phát triển kinh tế, chống ngoại xâm là những nhân tố quan trọng hình thành nên ý thức cộng đồng ở cấp độ quốc gia.

c. Điều kiện lịch sử

Trong lịch sử, sự cố kết, đoàn kết của cộng đồng đã trở thành một truyền thống quý báu gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Do vị thế địa chính trị rất đặc biệt quan trọng nên Việt Nam thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm đe doạ thôn tính đất nước. Một đất nước đất không rộng, người không đông, muốn đánh thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giưói thì trước hết phải có tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc cao.

Ý thức cố kết cộng đồng, tinh thần đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được hình thành từ rất sớm, trong quá trình phát triển của lịch sử, nó ngày càng được phát triển, củng cố vững chắc, tạo nên truyền thống bền vững thấm sâu vào tình cảm, tâm hồn mỗi con người Việt Nam. Tinh thần, ý thức ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc để chiến thắng mọi thiên tai địch hoạ. Điều này đã được đúc kết và thể hiện trong triết lý:

"Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
"

Cơ sở truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng trong chống giặc ngoại xâm là ở chỗ: nước mất thì nhà tan, bởi vậy, trước tiên mọi người dân phải có ý thức đoàn kết nhau lại để bảo vệ đất nước, chống lại những cuộc xâm lăng của kẻ thù bên ngoài.

Ở Việt Nam, khi có giặc ngoại xâm thì tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp luôn luôn dâng cao ý thức chung vì dân tộc là phải đoàn kết thống nhất với nhau vì một mục tiêu chung là đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất nước. Các giai cấp, tầng lớp dù khác nhau, thậm chí dù có mâu thuẫn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ lại cố kết với nhau lại, đặt lợi ích của cá nhân xuống sau lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc. Như vậy, ngay từ thời xa xưa, trên mảnh đất Việt Nam này đã hình thành một triết lý vì lợi ích chung mà tạm gác lợi ích riêng.

Ý thức cộng đồng thể hiện sâu sắc trong lịch sử lập quốc của dân tộc Việt Nam, "sự hợp nhất một cách tự nguyện của 15 bộ lạc anh em thành một Nhà nước Văn Lang thống nhất là một minh chứng hùng hồn về sự đoàn kết của cộng đồng dân tộc"6. Giang sơn chính là lòng dân, thống nhất giang sơn bằng thống nhất lòng người là điều hiếm thấy từ xưa đến nay. Đó cũng là điều kiện để hình thành nên một tâm lý chung, một tính cách dân tộc chung thể hiện bản sắc văn hoá Việt Nam, một nền văn hoá dân tộc phản ánh và kết tinh những truyền thống lịch sử dân tộc. Nó nổi bật ở truyền thống khắc phục thiên tai, chinh phục tự nhiên và chống giặc ngoại xâm. Đứng trước vận mệnh dân tộc, mỗi cá nhân dường như quên đi lợi ích riêng tư của mình để cố kết nhau lại tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc. Sự cố kết đó có cả sự kết tinh xương máu của biết bao thế hệ. Trải qua hàng ngàn năm sự cố kết ấy đã ăn sâu vào nếp nghĩ, phương cách ứng xử của mọi thành viên trong xã hội, một giá trị thiêng liêng trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng đồng đã trở thành lẽ sống của mỗi người Việt Nam và của cả dân tộc không chỉ trong công cuộc dựng nước mà cả trong công cuộc giữ nước. Để giữ nước nhân dân ta phải thường xuyên ý thức được sự đoàn kết với nhau vì một dân tộc độc lập để đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh, phải chiến đấu và chiến thắng trong những điều kiện ác liệt. Cuộc đấu tranh lâu dài nhằm khắc phục, hạn chế thiên tai và chống giặc ngoại xâm đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống, làm nảy sinh ý thức và tình cảm đối với dân tộc, sớm phát triển chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc, ý chí độc lập dân tộc, ý thức cộng đồng dân tộc và tinh thần quật cường bất khuất của con người Việt Nam.

Ngay từ thời Hùng Vương, người Việt đã có ý thức cộng đồng dân tộc và chủ quyền đất nước, cùng một lúc vừa phải chống trọi và thích nghi với thiên nhiên nghiệt ngã vừa phải liên tiếp đương đầu với kẻ thù xâm lược. Đúng như một nhà nghiên cứu đã viết: "Thời Bắc thuộc, ý thức cộng đồng dân tộc ngày càng trở nên rõ nét, nhất là trong bối cảnh nước ta có nguy cơ bị đồng hoá một cách vĩnh viễn. Không phải ngẫu nhiên mà truyền thuyết trăm bọc trăm trứng, các dân tộc Việt đều từ cùng một bọc mà ra (đồng bào) lúc này xuất hiện"7. Đó chính là nhờ con người Việt Nam đã sớm có lòng tự hào dân tộc, có ý thức về chủ quyền dân tộc, ý thức tự cường dân tộc, có lòng yêu nước, có ý thức về lãnh thổ, về văn hoá, truyền thống… Tất cả đã hợp thành ý thức dân tộc và có ý thức chung về cộng đồng dân tộc. Những yếu tố này đã thấm sâu vào tư tưởng góp phần hình thành nên bản lĩnh dân tộc Việt Nam. Mặc dù phong kiến phương Bắc có nền văn hoá và trình độ cao hơn, luôn luôn có chủ trương xâm lược, đồng hoá cưỡng bức các dân tộc khác và các thế lực phong kiến phương Bắc đã đồng hoá được nhiều dân tộc cổ đại, duy chỉ có dân tộc Việt Nam, sau hơn 1000 năm bị đô hộ mà vẫn không hề bị đồng hoá. Việt Nam là điểm dừng trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi của Đế chế Trung Hoa về phái Nam, đã vượt qua những thảm hoạ lớn mà có lúc tưởng chừng không thể vượt qua được để trở về với chính mình, bảo tồn toàn vẹn bờ cõi, bảo tồn toàn vẹn nền văn hoá truyền thống và tâm hồn người Việt.

Ý thức cộng đồng Việt Nam còn được thể hiện ở ý chí thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Bởi thống nhất Tổ quốc trở thành nhu cầu của đạo lý, tình cảm, là điều kiện của sự tồn tại độc lập và hạnh phúc của toàn thể nhân dân ta. Con người Việt Nam đã sớm ý thức được rằng, chỉ có thể giải phóng toàn vẹn đất nước khi toàn thể cộng đồng người sống trên lãnh thổ đó được giải phóng. Vì vậy, toàn thể đồng bào đã liên kết lại để đấu tranh. Nhân dân Việt Nam quyết không để cho kẻ thù xâm lược xoá sổ dân tộc Việt Nam.

Ý chí quật cường, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng dân tộc của nhân dân Việt Nam còn được biểu hiện mạnh mẽ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, không chỉ trong 1.000 năm Bắc thuộc, mà còn đến các triều đại phong kiến về sau, đặc biệt hơn cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại nền độc lập dân tộc. Suốt 4.000 năm lịch sử, đã có thế kỷ nào dân tộc Việt Nam lại ngừng đấu tranh vì nền độc lập? Có thế kỷ nào vắng bóng những anh hùng? Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước ngoại bang, chưa bao giờ qùy gối trước kẻ thù. Bởi ở đó, có những con người luôn ý thức về chủ quyền đất nước, về toàn vẹn lãnh thổ; có những con người luôn tự hào về giống nòi, về nền văn hoá, về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc; có những con người luôn yêu quê hương tha thiết, yêu con người, yêu làng xóm, yêu "cây tre, bến nước, sân đình"; có những con người có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, có ý thức cố kết, đoàn kết nhau lại để bảo vệ nền độc lập dân tộc, để giữ gìn cuộc sống bình yên của mình. Họ hiểu rằng, chỉ có kết hợp ý chí, sức lực của một tập thể, của cộng đồng, phải "đồng lòng góp sức" mới đem lại được sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Tinh thần ấy, ý chí ấy được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, "từ trong khó khăn và thử thách khắc nghiệt, ý thức cộng đồng được hình thành và qua thời gian nó phát triển thành ý thức đại đoàn kết dân tộc"8.

d. Cơ sở văn hoá

Với hơn 4.000 năm lịch sử, Việt Nam còn là một dân tộc có bề dày văn hoá vô cùng phong phú – tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc. Đây chính là cơ sở vững chắc của ý thức cộng đồng dân tộc Việt nam: "ý thức cộng đồng dân tộc được đặt trên cơ sở chắc chắn – sự tích "Con rồng cháu tiên", sự tích về bọc trăm trứng, nhằm khẳng định một tổ tiên chung, một nguồn gốc chung của người dân Việt Nam. Truyền thuyết về bọc trăm trứng là bằng chứng chứng minh hùng hồn nhất về ý thức cộng đồng dân tộc, dù bầu hay bí đều chung một giàn…" 9. Như vậy, tất cả người Việt dù ở miền ngược hay miền xuôi, dù ở núi rừng hay biển cả đều là con cháu Lạc Hồng, đều có chung tổ tiên, đều là anh em một nhà, cùng là con dân của nước Việt Nam. Chính điều đó đã ăn sâu vào nếp nghĩ, vào tư tưởng của mỗi người Việt Nam, hình thành nên sức mạnh nội lực của dân tộc Việt Nam, nó có sức quy tụ, đoàn kết rất lớn, nó nâng cao ý thức cộng đồng và tinh thần yêu nước và có ý nghĩa to lớn không chỉ thời bấy giờ mà cho đến tận ngày nay.

Chính nhờ có ý thức sâu sắc về cội nguồn dân tộc như vậy, mà nhân dân Việt Nam suốt đời này qua đời khác, đã luôn cố gắng, bảo vệ, duy trì và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đặc biệt là sự bảo tồn nền văn hoá dân tộc trước sự đồng hoá của văn hoá nước ngoài. Trước khi bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên người Việt đã có hàng chục vạn năm văn hoá tiền sử, có hàng ngàn năm văn minh sông Hồng định hình nếp sống văn hoá, cơ cấu văn minh, thể chế chính trị - xã hội, lối sống, tính cách và truyền thống văn hoá riêng,… sức mạnh của ý thức cộng đồng dân tộc bắt nguồn từ đó, đó là sức mạnh văn hoá, tư tưởng, tinh thần khiến cho kẻ thù không thể đồng hoá nổi, không thể tiêu diệt được ngôn ngữ, văn hoá dân tộc Việt Nam, cùng với những yếu tố khác tạo nên sức mạnh để nhân dân ta giành độc lập cho dân tộc.

Việt Nam là dân tộc sớm có nền văn hoá riêng, phong phú, những tập quán riêng - một nền văn hoá mà tiêu biểu là trống đồng, thạp đồng, đình, chùa, miếu mạo…, và một nền văn học nghệ thuật dân gian đặc sắc dân tộc. Yếu tố văn hoá bản địa thấm sâu vào ý thức mỗi người Việt Nam hình thành nên lòng tự hào về truyền thống văn hoá, ý thức tự cường dân tộc. Từ đó nảy sinh ý thức cộng đồng dân tộc, ý thức phải giữ gìn bản sắc văn hoá của mình. Bảo vệ những phong tục cổ truyền có từ thời xa xưa của cộng đồng người Việt cổ như: ăn trầu, nhuộm răng, đấu vật, trọi trâu, đánh đu…; cách ứng xử trọng người già, phụ nữ, kính thầy, yêu bạn, tình làng nghĩa xóm, tôn vinh các anh hùng dân tộc… Những phong tục đẹp đẽ đó được lưu giữ suốt ngàn năm Bắc thuộc và còn tồn tại đến ngày nay.

Văn hoá Việt Nam cổ truyền cơ bản là văn hoá nông nghiệp, văn hoá xóm làng, văn hoá dân gian. Đó là nền văn hoá gắn chặt với cộng đồng gia đình, gia tộc, dòng họ, làng xã và từ đó mở rộng ra cả cộng đồng quốc gia, dân tộc. Văn hoá làng là một mô thức thể hiện văn hoá dân tộc mang tính đặc thù, nó gắn liền với môi trường sinh thái của làng, dân cư và truyền thống lịch sử, từ đó hình thành nên hệ thống các đặc trưng về nếp sống và tâm lý, về tín ngưỡng, về phong tục và lễ hội, các sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, các hoạt động văn hoá nghệ thuật… Đặc biệt hội làng là hiện tượng văn hoá tiêu biểu, thể hiện sức mạnh cố kết của cộng đồng làng xã.

Làng xã Việt Nam đã phát huy được ý thức tập thể, tinh thần chủ động và sáng tạo của mọi người. Ý thức cộng đồng được củng cố bền chặt trong những phong tục tập quán kéo dài từ đời này qua đời khác. Những thể lệ về canh tác ruộng đất chung, những giao ước trong việc giúp đỡ nhau xây dựng nhà cửa, những quy tắc trong sinh hoạt gia đình, làng xóm, những chuẩn mực đạo đức xã hội... vừa là sản phẩm của ý thức cộng đồng Việt Nam, vừa là nhân tố cấu kết nó.

Trong văn hoá ứng xử giữa người với người, ý thức cộng đồng Việt Nam cũng được biểu hiện rõ nét. Đó là tình yêu thương cộng đồng "Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng"¸ "Thương người như thể thương thân"; lòng nhân ái, bao dung "Lá lành đùm lá rách"; tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái "Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ",… đối với đồng bào mình. Mặt khác, "dư luận xã hội có một vai trò quan trọng trong việc củng cố ý thức cộng đồng dân tộc. Hành vi của các cá nhân trong cộng đồng được điều chỉnh thông qua dư luận, với những lời đồn đại, thái độ khích lệ hoặc chê cười của dân làng. Người ta chê trách, xa lánh những kẻ đi nguợc lợi ích cộng đồng, dân tộc. Bị khai trừ ra khỏi làng là hình phạt nặng nhất đối với người nông dân trong xã hội truyền thống. Tinh thần cộng đồng kích thích tính năng động tham gia của mọi người vào các hoạt động tập thể xem đó là bổn phận, trách nhiệm của mình"10.

Ở đây,chúng ta không chỉ thấy trình độ văn hoá trong giao tiếp, tính nhân văn trong cuộc sống mà còn thấy toát lên vẻ đẹp và sự sâu sắc của ý thức cộng đồng Việt Nam trong quan hệ giữa người với người. Tình cảm sâu sắc đối với cộng đồng đi liền với nghĩa vụ. Mọi người dồn công sức vào lao động, chiến đấu và học tập để phục vụ cho quê hương, đất nước. Sức mạnh của cá nhân kết tụ lại trong sức mạnh cộng đồng và sức mạnh cộng đồng thâm nhập và sức mạnh của cá nhân, đem lại cho các cá nhân ý chí và niềm tin.

Với ý thức cộng đồng, người Việt Nam đặt lợi ích cộng đồng cao hơn lợi ích cá nhân, lợi ích Tổ quốc cao hơn lợi ích gia đình. Mỗi cá nhân đều cảm thấy tình cảm sâu sắc nhất và hạnh phúc cao nhất của mình là được sống giữa tình yêu thương của gia đình, làng xã và Tổ quốc. Trong cuộc sống của con người Việt Nam, đau khổ nhất là phải tách ra khỏi cuộc sống của cộng đồng.

Có thể nói rằng, ý thức cộng đồng của con người Việt Nam là cơ sở bền vững cho tinh thần dũng cảm phi thường và đầu óc mưu trí sáng tạo, là cốt lõi của những giá trị truyền thống trong văn hoá Việt Nam.

4. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA Ý THỨC CỘNG ĐỒNG TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nhiều chuẩn mực và giá trị mới đang được hình thành. Do đó, ý thức cộng đồng, tinh thần tập thể ngày nay phải được đặt trong bối cảnh mới. Tính năng động xã hội được khơi dậy thay cho thái độ ỷ lại, trông chờ. Đầu óc cải tiến, sáng tạo dần vượt lên thói quen bảo thủ, giáo điều. Sở trường, năng lực của những con người tài giỏi được cộng đồng khuyến khích, trân trọng, khác với tâm lý xưa cũ coi "tốt lỏi" không bằng "xấu đều". Ý thức trách nhiệm cá nhân trong cộng đồng tập thể được xác định rõ, không còn giống như thứ "chủ nghĩa tập thể" thô sơ "cha chung không ai khóc", "nhiều sãi không ai đóng cửa chùa"… Nhiều hủ tục cũ, tâm lý cục bộ địa phương "phép vua thua lệ làng" đã dần được xoá bỏ thay vào đó là ý thức cùng nhau xây dựng gia đình văn hoá, làng xóm văn hoá.

Sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng được chú ý, phát triển hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Con người được mở rộng phạm vi hoạt động trở nên năng động và tích cực, dễ dàng hoà nhập vào các hoạt động chung của cộng đồng. Tài năng lao động và tính năng động của con người được coi trọng, nhân cách của cá nhân được ghi nhận như một chuẩn mực trước cộng đồng. Nhìn chung, phần lớn cán bộ, nhân dân đã và đang nỗ lực hết mình với tinh thần trách nhiệm cao. Nhiều người đã thực sự gương mẫu, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, góp phần hết sức to lớn vào sự phát triển chung của tập thể, cộng đồng.

Ý thức cộng đồng ngày nay đã vượt ra khỏi phạm vi ý thức cộng đồng làng xã, trong ý thức cộng đồng dân tộc bao gồm cả ý thức cộng đồng nhân loại. Rất nhiều những hoạt động chung tay vì cộng đồng được con người hưởng ứng, không chỉ trên phạm vi một tổ chức, mà trên phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế. Chẳng hạn, như các hoạt động hiến máu nhân đạo, hoạt động quyên góp vì người nghèo; ủng hộ đồng bào bão lụt, sóng thần; ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; hoạt động vì môi trường xanh sạch đẹp, hay những hoạt động chung tay chống lại đại dịch HIV-AIDS, ma tuý...

Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong cơ chế thị trường tất yếu sinh ra phân hoá giàu nghèo, mâu tthuẫn lợi ích… Điều đó, có thể dẫn tới sự biến dạng của nhân cách. Từ chỗ giá trị nhân cách của con nguời được xác định trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng cũng như trách nhiệm và sự đóng góp của họ đối với gia đình, làng xã, dân tộc, trong tình thế phải lựa chọn, con người sẵn sàng hy sinh bản thân để giải phóng dân tộc, quê hương, đến chỗ đề cao quá mức vai trò cá nhân trong sự tách rời với quê hương và cộng đồng xã hội, đề cao giá trị vật chất mà hy sinh mọi giá trị khác chỉ vì cuộc sống cá nhân ích kỷ. Nhiều người chưa có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, và đặc biệt là giữa các cộng đồng nhỏ với cộng đồng lớn nhất là đối với quốc gia, dân tộc. Ý thức cộng đồng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc hiện nay đang bị chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng biệt phái, cục bộ địa phương khép kín trong một bộ phận cán bộ, nhân dân tác động.

Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn cần chú ý rằng: nếu chừng nào mỗi cá nhân không mạnh thì tập thể không thể mạnh và ngược lại; nếu lợi ích mỗi cá nhân không được đảm bảo thì lợi ích của cộng đồng cũng bị xâm hại và ngược lại. Nếu các cơ sở và các đơn vị không xây dựng và phát triển được tinh thần và ý thức cộng đồng mạnh thì không thể có ý thức và tinh thần cộng đồng của cả dân tộc. Nhưng quá trình xây dựng và phát huy ý thức cộng đồng của các cộng đồng nhỏ thường rất dễ biến thành quá trình hình thành và phát triển của tinh thần cục bộ, cát cứ tập thể của các cộng đồng nhỏ, đặt các cộng đồng nhỏ trong thế ly khai, xung đột với cộng đồng lớn. Ðây là nguy cơ đã xuất hiện ở một số nơi (các xóm, các thôn, các dân tộc thiểu số…). Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, việc đề cao quá mức tính cộng đồng cũng dẫn đến những tác động và hệ quả tiêu cực không nhỏ, đó là sự coi thường, xâm hại lợi ích và quyền tự do cá nhân; là sự hạn chế thậm chí bóp chết những sáng tạo cá nhân; là tư duy bình quân cào bằng; là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc theo kiểu "chín bỏ làm mười", "hòa cả làng"; đặc biệt là thói quen đem đặt lợi ích của cộng đồng nhỏ, của bộ phận đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng lớn. Do vậy, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân-tập thể-xã hội trên cơ sở giải quyết đúng, hài hòa mối quan hệ lợi ích cá nhân-tập thể-xã hội.

Chú thích

1
GS. Vũ Khiêu, Văn hoá Việt Nam xã hội và con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 2000, tr. 64.
2
TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam,Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 36.
3
GS. Hà Văn Tấn và PGS Chử Văn Tần, Văn hoá Việt Nam xã hội và con người (GS Vũ Khiêu chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 2000, tr. 115–116.
4
TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 51.
5
TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 52.
6
TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 55.
7
GS. TS. Nguyễn Hùng Hậu, Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội. 2008, tr. 44.
8
TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 30.
9
GS. TS. Nguyễn Hùng Hậu, Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2008, tr. 9.
10
TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr 56.
 

Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Gladfelter Hall, Room 1016
Temple University Philadelphia, PA 19122 Contact: vietcent@temple.edu