|
CONTENTS
|
 |
Ancient Western Philosophy
— Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University |
 |
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University |
 |
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
— History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University |
 |
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận |
 |
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University |
 |
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia
phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
— Political Philosophy
in the Period of Building
an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University |
 |
Political Economy: A Brief Overview
— Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa |
 |
The Philosophy of Language and Thought
— Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University |
 |
Aesthetics
— Mỹ học |
 |
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
The Mind-Body Problem
— Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University |
 |
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education |
 |
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences |
 |
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Khảo
cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities |
|
|
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society
Temple University
|
|
| |
Ý
THỨC CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM
PGS. TS.
Trần Văn Phòng
Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
|
- 1. KHáI NIỆM Ý THỨC
CỘNG ĐỒNG
-
Con người
được sinh ra và trưởng thành từ trong cộng
đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, cá nhân con
người mới được xã hội hoá, mới
trở thành người. Trong cuộc sống, bất kì
một tổ chức, một cộng đồng nào
cũng đều đòi hỏi mỗi người sống
trong nó phải có một ý thức chung về cộng
đồng thường được gọi là ý
thức cộng đồng.
Ý thức cộng
đồng có thể hiểu là tổng thể những
tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thói quen, cách
hành xử,v.v.. thể hiện thái độ của con
người, của các nhóm xã hội đối với
cộng đồng. Nói cách khác đó là sự quan tâm, cư
xử của mỗi người, của mỗi nhóm xã
hội, mỗi tổ chức với cộng đồng
xung quanh.
Ý thức cộng
đồng vốn là đặc điểm chung của
nhân loại, nhưng ở Việt Nam, ý thức cộng
đồng còn là sản phẩm đặc thù của hoàn
cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, trở thành
điều kiện sống còn và sức mạnh
trường tồn của dân tộc trước mọi
thử thách. Từ mấy nghìn năm nay, các dân tộc, các
thành viên cùng chung sống trên dải đất Việt Nam
có nhu cầu tự nhiên là phải cố kết nhau lại
để chống chọi với thiên tai và giặc
ngoại xâm, trở thành một cộng đồng bền
chặt - đại gia đình các dân tộc Việt Nam,
cùng nhau dựng nước và giữ nước. Đoàn
kết là truyền thống từ ngàn xưa của dân
tộc Việt Nam. Nhờ đó, con người Việt
Nam ý thức được mình thuộc về một dân
tộc, quốc gia, ý thức về cách sống, cách dựng
nước, giữ nước cũng như quyền lợi
và nghĩa vụ của mình trước vận mệnh dân
tộc, trước đời sống cộng
đồng dân tộc, điều đó giúp cho dân tộc
ta trở thành một khối thống nhất vững mạnh.
- 2. NỘI DUNG CỦA Ý
THỨC CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM
-
Cho đến nay,
dù tiếp cận ý thức cộng đồng dưới
góc độ nào (triết học, văn hoá học,
lịch sử, xã hội học, tâm lý học hay khoa
học chính trị...), thì các nhà nghiên cứu cũng
đều chia sẻ một số điểm thống
nhất là: Trong môi trường xã hội, văn
hoá phương Ðông thì ý thức cộng đồng (hay
"cái cộng đồng") và ý thức cá nhân (hay "cái cá nhân")
là hai mặt đối lập nhưng không loại trừ
lẫn nhau mà là điều kiện tồn tại của
nhau trong một thể thống nhất biện chứng.
Cộng đồng, dù là cộng đồng lớn hay
nhỏ, xét về mặt xã hội, không thể tồn
tại trên cơ sở một cấu trúc đơn
giản chỉ với các mối liên hệ ngang, bởi
lẽ khi đó cộng đồng sẽ trở thành các
tập hợp người giản đơn. Vì vậy,
xét về phương diện xã hội, cộng
đồng phải xác lập được một
cấu trúc bền vững với các mối liên hệ ngang
và liên hệ dọc phức hợp; tự bản thân
cấu trúc và các mối liên hệ nội tại cũng
chưa đủ điều kiện để biến
bất kỳ một tổ chức hay thiết chế xã hội
nào thành một cộng đồng. Tổ chức hay thiết
chế đó chỉ trở thành cộng đồng khi
sự vận hành của cấu trúc đó trong một môi
trường xác định dựa trên những "mẫu
số chung". Mẫu số chung đó là: các thành viên
của nó cùng chia sẻ lợi ích chung; cùng có một hay
nhiều mục tiêu chung; cùng có động cơ và ý chí
chung; cùng hành động tự giác dựa trên những
nguyên tắc chung; cùng có quan niệm chung đồng
nhất về cộng đồng và có tình cảm gắn
kết cộng đồng cao. Tất cả các yếu
tố trên tạo nên sự "đồng thuận chung"
(general consensus) — cơ sở của sự cố kết và
sức sống của cộng đồng.
Nội dung của ý
thức cộng đồng Việt Nam là sự
đồng thuận cao của toàn thể nhân dân trong đại
gia đình các dân tộc Việt Nam. Đó là:
- Ðồng thuận
cao trong nhận thức về tình yêu quê hương,
đất nước, về trách nhiệm, nghĩa vụ
của cá nhân đối với cộng đồng với
quê hương, đất nước.
- Ðồng thuận
cao về lợi ích, trong đó phải giải quyết hài
hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với
lợi ích tập thể, giữa lợi ích tập thể
nhỏ ( bộ phận) với lợi ích toàn thể
(cộng đồng dân tộc).
- Ðồng thuận
cao trong việc kiên quyết thực hiện các chủ
trương chính sách, pháp luật của Nhà nước…
để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của
cá nhân đối với cộng đồng dân tộc,. . .
- Ðồng thuận
cao việc nhận thức và giải quyết các vấn đề
chung của xã hội.
- Ðồng thuận
cao trong nỗ lực đương đầu với các
thách thức, giải quyết các khó khăn.
- Ðồng thuận
cao để xây dựng và gìn giữ tình cảm gắn
kết cộng đồng, cùng tạo nên định hướng
giá trị chung của văn hoá dân tộc.
- 3. CƠ SỞ CỦA Ý
THỨC CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM
-
Hiện nay,
nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng
định rằng ý thức cộng đồng cao là
một trong những đặc điểm chung quan
trọng nhất của văn hoá và văn hoá chính trị phương
Ðông. Ý thức cộng đồng
và truyền thống đoàn kết, tương thân,
tương ái cũng là một giá trị, một trong
những truyền thống quý báu nhất của dân tộc
Việt Nam. Giá trị, truyền thống này có cội
rễ sâu xa từ trong phương thức sinh tồn
(phương thức tổ chức xây dựng và quản
lý điều hành các công trình thủy lợi — yếu
tố sống còn của nền sản xuất nông
nghiệp trồng lúa nước nói riêng, yếu cầu
cố kết chống thiên tai nói chung; yêu cầu đoàn
kết chống giặc ngoại xâm...) và từ trong
phương thức tổ chức xã hội truyền
thống (căn bản dựa trên các cộng đồng
gia đình, dòng tộc, làng, liên làng). Trải qua hàng nghìn
năm dựng nước và giữ nước, tinh
thần cộng đồng và truyền thống đoàn
kết, tương thân, tương ái đã
được hun đúc, trở thành một giá trị
văn hoá chủ đạo và một truyền thống quý
báu – một bệ đỡ quan trọng nhất của
chủ nghĩa yêu nước — cơ sở và cội
nguồn của sức sống và nội lực phát triển
của dân tộc Việt Nam.
a. Điều kiện tự nhiên
Ý thức cộng
đồng nảy sinh từ buổi sơ khai của những
tộc người Việt (âu Việt, Lạc Việt).
Ở vào một hoàn cảnh địa lý: đất
nước trải dài trên bán đảo Đông
Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc rộng lớn,
phía Đông là biển Thái Bình Dương, phía Tây núi non
hiểm trở, con người Việt Nam từ khi mở
nước đến sau này đã tự ý thức phải
dựa vào nhau và gắn bó với nhau trong một cộng
đồng, tập thể để tồn tại và phát
triển.
Do địa bàn
tụ cư nằm ở khu vực Đông Nam á với
hệ thống sông ngòi dày đặc, khí hậu nhiệt
đới gió mùa, người Việt được thiên
nhiên ưu đãi bởi nguồn nhiệt ẩm lớn,
tiềm năng nước dồi dào, lượng phù sa
bồi đắp cho các đồng bằng châu thổ, các
loài động vật dưới biển và trên cạn
phong phú. Tuy nhiên, Việt Nam cũng là một nước có
điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt,
với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa
đông thì lạnh giá, khô hạn, gây nên các trận hạn
hán, đồng ruộng khô nẻ, thiếu nước
trầm trọng; mùa hè thì nóng bức, mưa nhiều gây
lũ lụt, bão tố, lở đất, xói mòn…Nền khí
hậu nhiệt đới âm gió mùa cũng là điều
kiện thuận lợi làm phát sinh dịch bệnh, sâu
hại…phá hoại mùa màng, cây cối, cướp đi
cuộc sống của biết bao con người cũng
như vật nuôi. Chính điều đó đã làm cho
cuộc sống của người
Việt hết sức khó khăn, mất mùa, đói kém,
dịch bệnh… xảy ra liên miên, đời sống nhân
dân vô cùng cực khổ. Do đó, con người phải
làm lụng vất vả quanh năm để tồn
tại.
Với phương
thức sản xuất còn hết sức lạc hậu,
tự cấp tự túc, phụ thuộc nhiều vào tự
nhiên, người Việt bắt đầu tìm cách chế
ngự thiên nhiên, hạn chế những thiên tai do thiên nhiên
mang lại. Công cuộc chinh phục thiên nhiên của con
người được bắt đầu bằng
sự liên kết nhau lại của những người
Việt cổ. Họ nhận thấy sự cần
thiết phải sống tập trung lại với nhau,
nương tựa vào nhau và sự cần thiết phải
có sức mạnh của một tập thể để
đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt ấy.
Họ đã tập hợp nhau lại để tiến
hành đắp đê, ngăn sông, ngăn biển để
đối phó với lũ lụt hàng năm cũng
như để ngăn chặn sự xâm mặn của
nước biển. Đồng thời, họ xây dựng
những công trình thuỷ lợi như đào kênh, mương
dẫn nước vào đồng ruộng, khắc
phục hạn hán, khơi sông, ngăn dòng, đào những
ao hồ nhân tạo để phục vụ mùa màng và
cuộc sống. Ngoài ra, hàng năm con người còn
thường xuyên phải quai đê, hộ đê, trồng
rừng ven biển… Những công việc ấy đòi
hỏi ý chí vì mình, vì cộng đồng, cùng sức
lực không phải của một người mà phải
là sự đoàn kết, chung sức của hàng nghìn, hàng
nghìn người góp lại, "xây đắp hàng vạn cây
số đê và thường xuyên chống lụt, chống
hạn, rồi tiếp sau đó là đẩy mạnh
việc khẩn hoang, khai phá vùng đất phía Nam, tăng
gấp hai lần diện tích đất canh tác cho
đất nước. Sự nghiệp vĩ đại
đó sao có thể thành công nếu như không có sức
mạnh của cộng đồng?"1.
Để tồn tại,
điều kiện đầu tiên là con người
phải gắn bó với nhau trong lao động, trong
cuộc sống hàng ngày. Do vậy, người dân Việt
Nam từ xưa đến nay đã phải lao
động trong những hoàn cảnh khó khăn,
đồng cam cộng khổ, tương trợ, giúp
đỡ lẫn nhau để vượt qua hoàn cảnh
sống khắc nghiệt. Lịch sử phát triển Việt
Nam từ Bắc tới Nam cho thấy, nếu con
người không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau
thì không thể tồn tại. Trong gian khổ, con
người càng phải nương tựa vào nhau
để sống, đấu tranh bảo vệ thành
quả lao động của mình. Gắn bó với nhau trong
lao động như vậy, con người càng thấy
được thành quả lao động không phải
chỉ là của riêng mình, mà đó còn là của những
người lao động khác cùng với mình nữa. Chính
nhờ vậy, họ ý thức được mình là
một thành viên của cộng đồng, ý thức
được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình
đối với cộng đồng, từ đó, ý
thức cộng đồng dân tộc dần hình thành và
ngày càng trở nên bền chặt.
Lịch sử đã
chứng minh ý thức cộng đồng dân tộc
Việt Nam được hình thành từ rất sớm
ngay từ thuở khai sinh, lập địa. Đặc
biệt là sự ra đời của Nhà nước Văn
Lang "xuất phát từ nhu cầu cố kết con
người thành cộng đồng để vừa
chống thiên tai, làm thuỷ lợi vừa tăng
cường sức mạnh chống ngoại xâm" 2.
Công cuộc chống trọi với thiên nhiên khắc
nghiệt để tồn tại làm cho nhu cầu của
con người về đoàn kết, cố kết với
nhau tạo thành nguồn sức mạnh to lớn
vượt qua mọi khó khăn.
Như vậy, chính
điều kiện tự nhiên đã góp phần hình thành nên
ý thức cộng đồng Việt Nam, đã gắn
kết những con người riêng lẻ thành cộng
đồng, đã gộp sức yếu ớt của tờng
người thành sức mạnh cộng đồng, đã
hoà ý thức của những người riêng lẻ thành ý
thức chung của cộng đồng. Từ đây,
những con người riêng lẻ, yếu ớt đã
biết nương tựa vào nhau, cùng đồng sức,
đồng lòng đấu tranh khắc phục thiên tai,
dựng xây nên những công trình trị thuỷ…mà cho tới
tận ngày nay tinh thần đó, ý thức đó vẫn
đang được người Việt Nam tiếp
tục phát huy.
b. Điều kiện kinh
tế
Với một nền khí
hậu nhiệt đới gió mùa vô cùng khắc nghiệt,
bên cạnh sự chung sức để đấu tranh
chống thiên tai, chống lại sự hà khắc của
thiên nhiên, con người Việt Nam lại tiếp tục
chung sức trong lao động sản xuất, làm kinh
tế nhằm phát triển cuộc sống của mình.
Để đối phó
với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt,
với điều kiện địa hình, thổ
nhưỡng, những người Việt cổ đã
sớm tìm cách thích ứng và hoà nhập tối đa
với những điều kiện thiên nhiên ấy.
Đồng thời, để phát triển cuộc
sống của mình, họ phải liên kết nhau lại,
bỏ ra rất nhiều công sức để có thể
trụ lại trên mảnh đất của mình, cùng
sản xuất và tổ chức đời sống
để xây dựng quê hương ngày một giàu
đẹp văn minh. Cách thức mà người Việt
cổ tiến hành đó là: "tiến hành nền sản
xuất đa canh, thực hiện nhiều biện pháp
thuỷ lợi nhằm bảo đảm kết quả
cho mùa màng, khai thác triệt để nguồn lợi
tự nhiên của nước và rừng…Trong cuộc
vật lộn để kiếm sống này, trong cuộc
gian lao dựng nước này đã hình thành nên những
phẩm chất tốt đẹp mà nổi lên là
đức tính cần cù, kiên nhẫn, ý thức cộng
đồng gắn bó…" 3.
Ý thức cộng
đồng—một trong những nền tảng
đạo lý Việt Nam—thể hiện đậm nét
cơ cấu làng xã Việt Nam và phương thức canh
tác kiểu làng xã. Làng xã được hình thành trên cơ
sở sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là nông
nghiệp trồng lúa nước truyền thống. Làng xã
được hình thành cùng với chế độ phong
kiến và là một đơn vị tụ cư gồm
nhiều gia đình có tổ chức để cùng cư
trú, làm ăn, sinh sống. "Làng, nếu xét thuần tuý là
một đơn vị hành chính thì tự nó không tạo ra
ý thức cộng đồng. Chính điều kiện
địa lý, lịch sử, điều kiện xã hội
và phương thức sản xuất đã tạo ra ý
thức cộng đồng làng xã, qua các thời kì lịch
sử đã trở thành truyền thống và đạo lý
của người Việt Nam"4. Một trong
những ảnh hưởng của cái gọi là
phương thức sản xuất châu á là làng xã cổ
truyền Việt Nam. Làng xã này tồn tại một cách cô
lập, biệt lập, thụ động, quân bình chủ
nghĩa, ít thay đổi kéo dài từ thời xa xưa cho
đến thời gian gần đây. Xã hội Việt Nam
trồng lúa nước trước kia được phân
thành các làng xã đồng nhất như nhau vì đều
sản xuất ra những sản phẩm hầu như
giống nhau, nên mỗi làng đều tổ chức theo
lối gia đình tự cấp tự túc, bị trói
buộc bởi những xiềng xích của các quy tắc
cổ truyền (lệ làng), các thành viên của làng gắn
bó với nhau bởi quan hệ huyết thống, dòng
họ, quan hệ láng giềng và cả quan hệ sản
xuất. Do những đặc điểm đó mà cách
thức sản xuất cũng nhỏ lẻ, manh mún,
sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào tự
nhiên, độc canh khép kín. Thế nhưng, cũng nhờ
tính chất quần cư kiểu làng xã ấy đã
tạo cho con người có một ý thức trách nhiệm
chung đối với làng xã, cùng giải quyết các công
việc chung của làng xã—các công việc đòi hỏi
sức mạnh của tập thể, sự đoàn kết
nhất trí của tập thể - làm cho ý thức cộng
đồng làng xã được hình thành. Chẳng hạn,
sự liên kết nhau trong công cuộc khai phá, chinh phục
những vùng đất hoang dại, đầm lầy,
hoặc lấn biển thành những vùng đất
trồng trọt; mặt khác, nền sản xuất nông
nghiệp trồng lúa nước đòi hỏi việc
đảm bảo nước đầy đủ, không
thừa, không thiếu cho cây lúa sinh trưởng. Muốn
vậy, phải đoàn kết trong làng xã để
đắp đê, hộ đê, đắp bờ, đào
kênh, mương, rạch…để phục vụ cho canh
tác. Công việc này đòi hỏi sức lực của
nhiều người, đòi hỏi ý thức chung cùng
hiệp sức của cả làng xã hay liên làng xã. "Khi nghiên
cứu về phương thức sản xuất châu á, C.
Mác đã cho rằng: Ở phương Đông việc
tưới nước nhân tạo đã đòi hỏi
một sự hợp sức hợp quần trên một quy
mô lớn. Nhiều làng tập hợp thành một vùng,
nhiều vùng hợp thành một quốc gia dưới
sự chỉ đạo của một Nhà nước Trung
ương tập quyền…Làng xã Việt Nam đã
vượt ra khỏi thế biệt lập, khép kín
vốn là đặc điểm của một nền kinh
tế tiểu nông để gắn bó mật thiết
với nước và là một bộ phận của
nước. Vận mệnh làng gắn bó với vận
mệnh của nước. Ý thức cộng đồng
làng xã đã được phát triển ở một
mức độ cao hơn đó là ý thức quốc gia
dân tộc"5.
Tinh thần tập thể,
ý thức cộng đồng được gói lại
trong chữ công và được mở ra hai vế: công
cộng và công ích. Từ đó, toát lên trong ý thức
cộng đồng người Việt Nam đó là tinh thần trách nhiệm. Làng xã là đơn vị của xã
hội với nguồn nước chung, khu vực sinh
sống chung, canh tác chung, nơi hội họp chung… làm cho
tính cộng đồng trở lên rất mạnh mẽ có
sức thu hút người dân vào một tập thể
cố hữu và những công việc chung mang tính tập
thể. Ngoài ra, làng – công xã nông thôn kiểu châu á mà
đặc trưng hàng đầu là sở hữu công
cộng về ruộng đất, ruộng công ở
Việt Nam được chia định kì theo các suất
đinh. Chính cái thể thức ruộng công ấy mà mỗi
cá nhân thấy sự cần thiết phải liên kết với
toàn thể cộng đồng. Trên cơ sở ấy, tinh
thần, ý thức cộng đồng, cùng với thời
gian, dần dần được "ăn sâu" vào tiềm
thức con người Việt Nam.
Có thể nói, trong cuộc
sống cũng như trong lao động sản xuất, cái
cộng đồng bao giờ cũng vượt lên trên cái
cá thể. Từ đó, nhiệm vụ, trách nhiệm, ý
thức chung về làng xã, về cộng đồng ngày
càng ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam
và phát huy mạnh mẽ không chỉ trong công cuộc
đấu tranh với thiên tai, trong phát triển sản xuất
mà còn được thể hiện đậm nét trong công
cuộc đấu tranh giữ nước vĩ
đại. Như vậy, công xã nông thôn là cơ sở cho
việc hình thành nên ý thức cộng đồng ở
cấp độ làng xã và công cuộc trị thuỷ, phát
triển kinh tế, chống ngoại xâm là những nhân
tố quan trọng hình thành nên ý thức cộng
đồng ở cấp độ quốc gia.
c. Điều kiện
lịch sử
Trong lịch sử, sự
cố kết, đoàn kết của cộng đồng
đã trở thành một truyền thống quý báu gắn
liền với công cuộc dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam. Do vị thế
địa chính trị rất đặc biệt quan
trọng nên Việt Nam thường xuyên bị các thế
lực ngoại xâm đe doạ thôn tính đất
nước. Một đất nước đất không
rộng, người không đông,
muốn đánh thắng những đội quân xâm
lược hùng mạnh nhất thế giưói thì
trước hết phải có tinh thần đoàn kết, ý
thức cộng đồng dân tộc cao.
Ý thức
cố kết cộng đồng, tinh thần đoàn
kết dân tộc ở Việt Nam được hình thành
từ rất sớm, trong quá trình phát triển của
lịch sử, nó ngày càng được phát triển,
củng cố vững chắc, tạo nên truyền
thống bền vững thấm sâu vào tình cảm, tâm
hồn mỗi con người Việt Nam. Tinh thần, ý
thức ấy đã tạo nên sức mạnh vô
địch của dân tộc để chiến thắng
mọi thiên tai địch hoạ. Điều này đã
được đúc kết và thể hiện trong
triết lý:
"Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao"
Cơ sở truyền
thống đoàn kết, ý thức cộng đồng trong
chống giặc ngoại xâm là ở chỗ: nước
mất thì nhà tan, bởi vậy, trước tiên mọi người
dân phải có ý thức đoàn kết nhau lại để
bảo vệ đất nước, chống lại
những cuộc xâm lăng của kẻ thù bên ngoài.
Ở Việt Nam, khi có giặc ngoại xâm thì tất cả mọi tầng
lớp, mọi giai cấp luôn luôn dâng cao ý thức chung vì
dân tộc là phải đoàn kết thống nhất
với nhau vì một mục tiêu chung là đánh đuổi
quân xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất
nước. Các giai cấp, tầng lớp dù khác nhau,
thậm chí dù có mâu thuẫn, nhưng khi có giặc ngoại
xâm thì họ lại cố kết với nhau lại,
đặt lợi ích của cá nhân xuống sau lợi ích
của Tổ quốc, của dân tộc. Như vậy,
ngay từ thời xa xưa, trên mảnh đất Việt
Nam này đã hình thành một triết lý vì lợi ích chung mà
tạm gác lợi ích riêng.
Ý thức cộng
đồng thể hiện sâu sắc trong lịch sử
lập quốc của dân tộc Việt Nam, "sự
hợp nhất một cách tự nguyện của 15 bộ
lạc anh em thành một Nhà nước Văn Lang thống
nhất là một minh chứng hùng hồn về sự
đoàn kết của cộng đồng dân tộc"6.
Giang sơn chính là lòng dân, thống nhất giang sơn
bằng thống nhất lòng người là điều
hiếm thấy từ xưa đến nay. Đó cũng
là điều kiện để hình thành nên một tâm lý
chung, một tính cách dân tộc chung thể hiện bản
sắc văn hoá Việt Nam, một nền văn hoá dân
tộc phản ánh và kết tinh những truyền thống
lịch sử dân tộc. Nó nổi bật ở truyền
thống khắc phục thiên tai, chinh phục tự nhiên và
chống giặc ngoại xâm. Đứng trước
vận mệnh dân tộc, mỗi cá nhân dường như
quên đi lợi ích riêng tư của mình để cố
kết nhau lại tạo nên sức mạnh của toàn dân
tộc. Sự cố kết đó có cả sự kết
tinh xương máu của biết bao thế hệ.
Trải qua hàng ngàn năm sự cố kết ấy đã
ăn sâu vào nếp nghĩ, phương cách ứng xử
của mọi thành viên trong xã hội, một giá trị thiêng
liêng trong tâm thức của mỗi người Việt Nam.
Tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng
đồng đã trở thành lẽ sống của mỗi
người Việt Nam và của cả dân tộc không
chỉ trong công cuộc dựng nước mà cả trong
công cuộc giữ nước. Để giữ
nước nhân dân ta phải thường xuyên ý thức
được sự đoàn kết với nhau vì một
dân tộc độc lập để đương
đầu với những kẻ thù lớn mạnh,
phải chiến đấu và chiến thắng trong
những điều kiện ác liệt. Cuộc đấu
tranh lâu dài nhằm khắc phục, hạn chế thiên tai
và chống giặc ngoại xâm đã ảnh hưởng
sâu sắc đến mọi mặt của đời
sống, làm nảy sinh ý thức và tình cảm đối
với dân tộc, sớm phát triển chủ nghĩa yêu
nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc, ý chí
độc lập dân tộc, ý thức cộng đồng
dân tộc và tinh thần quật cường bất
khuất của con người Việt Nam.
Ngay từ thời Hùng
Vương, người Việt đã có ý thức cộng
đồng dân tộc và chủ quyền đất
nước, cùng một lúc vừa phải chống trọi
và thích nghi với thiên nhiên nghiệt ngã vừa phải liên
tiếp đương đầu với kẻ thù xâm
lược. Đúng như một nhà nghiên cứu đã
viết: "Thời Bắc thuộc, ý thức cộng
đồng dân tộc ngày càng trở nên rõ nét, nhất là
trong bối cảnh nước ta có nguy cơ bị
đồng hoá một cách vĩnh viễn. Không phải
ngẫu nhiên mà truyền thuyết trăm bọc trăm
trứng, các dân tộc Việt đều từ cùng
một bọc mà ra (đồng bào) lúc này xuất hiện"7.
Đó chính là nhờ con người Việt Nam đã
sớm có lòng tự hào dân tộc, có ý thức về
chủ quyền dân tộc, ý thức tự cường dân
tộc, có lòng yêu nước, có ý thức về lãnh
thổ, về văn hoá, truyền thống… Tất cả
đã hợp thành ý thức dân tộc và có ý thức chung
về cộng đồng dân tộc. Những yếu
tố này đã thấm sâu vào tư tưởng góp phần
hình thành nên bản lĩnh dân tộc Việt Nam. Mặc dù phong kiến phương Bắc có nền văn hoá
và trình độ cao hơn, luôn luôn có chủ trương
xâm lược, đồng hoá cưỡng bức các dân
tộc khác và các thế lực phong kiến phương
Bắc đã đồng hoá được nhiều dân
tộc cổ đại, duy chỉ có dân tộc Việt
Nam, sau hơn 1000 năm bị đô hộ mà vẫn không
hề bị đồng hoá. Việt Nam là điểm
dừng trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi
của Đế chế Trung Hoa về phái Nam, đã
vượt qua những thảm hoạ lớn mà có lúc
tưởng chừng không thể vượt qua
được để trở về với chính mình,
bảo tồn toàn vẹn bờ cõi, bảo tồn toàn
vẹn nền văn hoá truyền thống và tâm hồn
người Việt.
Ý thức cộng
đồng Việt Nam còn được thể hiện
ở ý chí thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của
dân tộc. Bởi thống nhất Tổ quốc trở
thành nhu cầu của đạo lý, tình cảm, là
điều kiện của sự tồn tại
độc lập và hạnh phúc của toàn thể nhân dân
ta. Con người Việt Nam đã sớm ý thức
được rằng, chỉ có thể giải phóng toàn
vẹn đất nước khi toàn thể cộng
đồng người sống trên lãnh thổ đó
được giải phóng. Vì vậy, toàn thể
đồng bào đã liên kết lại để
đấu tranh. Nhân dân Việt Nam quyết không để
cho kẻ thù xâm lược xoá sổ dân tộc Việt Nam.
Ý chí quật cường,
tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng
dân tộc của nhân dân Việt Nam còn được
biểu hiện mạnh mẽ trong suốt chiều dài
lịch sử dân tộc, không chỉ trong 1.000 năm
Bắc thuộc, mà còn đến các triều đại
phong kiến về sau, đặc biệt hơn cả
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ giành lại nền độc lập dân
tộc. Suốt 4.000 năm lịch sử, đã có thế
kỷ nào dân tộc Việt Nam lại ngừng đấu
tranh vì nền độc lập? Có thế kỷ nào
vắng bóng những anh hùng? Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước ngoại bang,
chưa bao giờ qùy gối trước kẻ thù. Bởi
ở đó, có những con người luôn ý thức về
chủ quyền đất nước, về toàn vẹn
lãnh thổ; có những con người luôn tự hào về
giống nòi, về nền văn hoá, về truyền
thống lịch sử hào hùng của dân tộc; có
những con người luôn yêu quê hương tha thiết,
yêu con người, yêu làng xóm, yêu "cây tre, bến
nước, sân đình"; có những con người có ý
thức trách nhiệm với cộng đồng, có ý
thức cố kết, đoàn kết nhau lại để
bảo vệ nền độc lập dân tộc,
để giữ gìn cuộc sống bình yên của mình.
Họ hiểu rằng, chỉ có kết hợp ý chí,
sức lực của một tập thể, của
cộng đồng, phải "đồng lòng góp sức"
mới đem lại được sức mạnh
để chiến đấu và chiến thắng kẻ
thù. Tinh thần ấy, ý chí ấy được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác, "từ trong
khó khăn và thử thách khắc nghiệt, ý thức
cộng đồng được hình thành và qua thời
gian nó phát triển thành ý thức đại đoàn kết
dân tộc"8.
d. Cơ sở văn hoá
Với hơn 4.000 năm
lịch sử, Việt Nam còn là một dân tộc có bề
dày văn hoá vô cùng phong phú – tạo nên bản sắc
văn hoá dân tộc. Đây chính là cơ sở vững
chắc của ý thức cộng đồng dân tộc
Việt nam: "ý thức cộng đồng dân tộc
được đặt trên cơ sở chắc chắn
– sự tích "Con rồng cháu tiên", sự tích về bọc
trăm trứng, nhằm khẳng định một
tổ tiên chung, một nguồn gốc chung của
người dân Việt Nam. Truyền thuyết về
bọc trăm trứng là bằng chứng chứng minh hùng
hồn nhất về ý thức cộng đồng dân
tộc, dù bầu hay bí đều chung một giàn…" 9.
Như vậy, tất cả người Việt dù ở
miền ngược hay miền xuôi, dù ở núi rừng hay
biển cả đều là con cháu Lạc Hồng,
đều có chung tổ tiên, đều là anh em một nhà,
cùng là con dân của nước Việt Nam. Chính điều
đó đã ăn sâu vào nếp nghĩ, vào tư
tưởng của mỗi người Việt Nam, hình
thành nên sức mạnh nội lực của dân tộc
Việt Nam, nó có sức quy tụ, đoàn kết rất
lớn, nó nâng cao ý thức cộng đồng và tinh
thần yêu nước và có ý nghĩa to lớn không chỉ
thời bấy giờ mà cho đến tận ngày nay.
Chính nhờ có ý thức sâu
sắc về cội nguồn dân tộc như vậy, mà
nhân dân Việt Nam suốt đời này qua đời khác, đã
luôn cố gắng, bảo vệ, duy trì và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc. Đặc biệt là sự
bảo tồn nền văn hoá dân tộc trước
sự đồng hoá của văn hoá nước ngoài. Trước
khi bị phong kiến phương Bắc đô hộ,
tổ tiên người Việt đã có hàng chục vạn
năm văn hoá tiền sử, có hàng ngàn năm văn minh
sông Hồng định hình nếp sống văn hoá, cơ
cấu văn minh, thể chế chính trị - xã hội,
lối sống, tính cách và truyền thống văn hoá
riêng,… sức mạnh của ý thức cộng đồng
dân tộc bắt nguồn từ đó, đó là sức mạnh
văn hoá, tư tưởng, tinh thần khiến cho
kẻ thù không thể đồng hoá nổi, không thể
tiêu diệt được ngôn ngữ, văn hoá dân tộc
Việt Nam, cùng với những yếu tố khác tạo
nên sức mạnh để nhân dân ta giành độc
lập cho dân tộc.
Việt Nam là dân tộc
sớm có nền văn hoá riêng, phong phú, những tập
quán riêng - một nền văn hoá mà tiêu biểu là trống
đồng, thạp đồng, đình, chùa, miếu
mạo…, và một nền văn học nghệ thuật
dân gian đặc sắc dân tộc. Yếu tố văn
hoá bản địa thấm sâu vào ý thức mỗi
người Việt Nam hình thành nên lòng tự hào về
truyền thống văn hoá, ý thức tự cường
dân tộc. Từ đó nảy sinh ý thức cộng
đồng dân tộc, ý thức phải giữ gìn bản
sắc văn hoá của mình. Bảo vệ những phong tục
cổ truyền có từ thời xa xưa của cộng
đồng người Việt cổ như: ăn trầu,
nhuộm răng, đấu vật, trọi trâu, đánh đu…;
cách ứng xử trọng người già, phụ nữ, kính
thầy, yêu bạn, tình làng nghĩa xóm, tôn vinh các anh hùng dân
tộc… Những phong tục đẹp đẽ đó được
lưu giữ suốt ngàn năm Bắc thuộc và còn tồn
tại đến ngày nay.
Văn hoá Việt Nam cổ truyền cơ bản là văn hoá nông nghiệp, văn hoá
xóm làng, văn hoá dân gian. Đó là nền văn hoá gắn chặt
với cộng đồng gia đình, gia tộc, dòng họ,
làng xã và từ đó mở rộng ra cả cộng
đồng quốc gia, dân tộc. Văn hoá làng là một mô
thức thể hiện văn hoá dân tộc mang tính đặc
thù, nó gắn liền với môi trường sinh thái của
làng, dân cư và truyền thống lịch sử, từ đó
hình thành nên hệ thống các đặc trưng về nếp
sống và tâm lý, về tín ngưỡng, về phong tục
và lễ hội, các sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi
lại, các hoạt động văn hoá nghệ thuật… Đặc
biệt hội làng là hiện tượng văn hoá tiêu biểu,
thể hiện sức mạnh cố kết của
cộng đồng làng xã.
Làng xã Việt Nam đã phát huy được ý thức tập thể, tinh thần
chủ động và sáng tạo của mọi người.
Ý thức cộng đồng được củng cố
bền chặt trong những phong tục tập quán kéo dài từ
đời này qua đời khác. Những thể lệ về
canh tác ruộng đất chung, những giao ước
trong việc giúp đỡ nhau xây dựng nhà cửa, những
quy tắc trong sinh hoạt gia đình, làng xóm, những chuẩn
mực đạo đức xã hội... vừa là sản phẩm
của ý thức cộng đồng Việt Nam, vừa là
nhân tố cấu kết nó.
Trong văn hoá ứng xử
giữa người với người, ý thức cộng
đồng Việt Nam cũng được biểu hiện
rõ nét. Đó là tình yêu thương cộng đồng "Nhiễu
điều phủ lấy giá gương / Người trong
một nước phải thương nhau cùng"¸ "Thương
người như thể thương thân"; lòng nhân ái,
bao dung "Lá lành đùm lá rách"; tinh thần đoàn kết,
tương thân tương ái "Một con ngựa đau,
cả tàu bỏ cỏ",… đối với đồng
bào mình. Mặt khác, "dư luận xã hội có một vai trò
quan trọng trong việc củng cố ý thức cộng
đồng dân tộc. Hành vi của các cá nhân trong cộng
đồng được điều chỉnh thông qua dư
luận, với những lời đồn đại, thái
độ khích lệ hoặc chê cười của dân làng.
Người ta chê trách, xa lánh những kẻ đi nguợc
lợi ích cộng đồng, dân tộc. Bị khai trừ
ra khỏi làng là hình phạt nặng nhất đối với
người nông dân trong xã hội truyền thống. Tinh thần
cộng đồng kích thích tính năng động tham gia của
mọi người vào các hoạt động tập thể
xem đó là bổn phận, trách nhiệm của mình"10.
Ở đây,chúng ta không
chỉ thấy trình độ văn hoá trong giao tiếp, tính
nhân văn trong cuộc sống mà còn thấy toát lên vẻ đẹp
và sự sâu sắc của ý thức cộng đồng
Việt Nam trong quan hệ giữa người với người.
Tình cảm sâu sắc đối với cộng
đồng đi liền với nghĩa vụ. Mọi người
dồn công sức vào lao động, chiến đấu và
học tập để phục vụ cho quê hương, đất
nước. Sức mạnh của cá nhân kết tụ lại
trong sức mạnh cộng đồng và sức mạnh
cộng đồng thâm nhập và sức mạnh của cá
nhân, đem lại cho các cá nhân ý chí và niềm tin.
Với ý thức cộng
đồng, người Việt Nam đặt lợi ích
cộng đồng cao hơn lợi ích cá nhân, lợi ích Tổ
quốc cao hơn lợi ích gia đình. Mỗi cá nhân đều
cảm thấy tình cảm sâu sắc nhất và hạnh phúc
cao nhất của mình là được sống giữa tình
yêu thương của gia đình, làng xã và Tổ quốc.
Trong cuộc sống của con người Việt Nam, đau khổ nhất là phải tách ra khỏi cuộc sống của
cộng đồng.
Có thể nói rằng, ý
thức cộng đồng của con người Việt
Nam là cơ sở bền vững cho tinh thần dũng cảm
phi thường và đầu óc mưu trí sáng tạo, là cốt
lõi của những giá trị truyền thống trong văn
hoá Việt Nam.
- 4. SỰ BIẾN ĐỔI
CỦA Ý THỨC CỘNG ĐỒNG TRONG THỜI ĐẠI
NGÀY NAY
-
Trong bối cảnh của
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,
nhiều chuẩn mực và giá trị mới đang được
hình thành. Do đó, ý thức cộng đồng, tinh thần
tập thể ngày nay phải được đặt
trong bối cảnh mới. Tính năng động xã hội
được khơi dậy thay cho thái độ ỷ lại,
trông chờ. Đầu óc cải tiến, sáng tạo dần
vượt lên thói quen bảo thủ, giáo điều. Sở
trường, năng lực của những con người
tài giỏi được cộng đồng khuyến khích,
trân trọng, khác với tâm lý xưa cũ coi "tốt lỏi"
không bằng "xấu đều". Ý thức trách nhiệm cá
nhân trong cộng đồng tập thể được
xác định rõ, không còn giống như thứ "chủ nghĩa
tập thể" thô sơ "cha chung không ai khóc", "nhiều sãi không
ai đóng cửa chùa"… Nhiều hủ tục cũ, tâm lý cục
bộ địa phương "phép vua thua lệ làng" đã
dần được xoá bỏ thay vào đó là ý thức cùng
nhau xây dựng gia đình văn hoá, làng xóm văn hoá.
Sự phát triển của mỗi
cá nhân trong cộng đồng được chú ý, phát
triển hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích cộng
đồng. Con người được mở rộng
phạm vi hoạt động trở nên năng động
và tích cực, dễ dàng hoà nhập vào các hoạt động
chung của cộng đồng. Tài năng lao động và
tính năng động của con người được
coi trọng, nhân cách của cá nhân được ghi nhận
như một chuẩn mực trước cộng
đồng. Nhìn chung, phần lớn cán
bộ, nhân dân đã và đang nỗ lực hết mình
với tinh thần trách nhiệm cao. Nhiều người
đã thực sự gương mẫu, đặt lợi
ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, góp phần hết sức to
lớn vào sự phát triển chung của tập thể,
cộng đồng.
Ý thức cộng
đồng ngày nay đã vượt ra khỏi phạm vi ý
thức cộng đồng làng xã, trong ý thức cộng
đồng dân tộc bao gồm cả ý thức cộng
đồng nhân loại. Rất nhiều những hoạt động
chung tay vì cộng đồng được con người
hưởng ứng, không chỉ trên phạm vi một tổ
chức, mà trên phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế.
Chẳng hạn, như các hoạt động hiến máu
nhân đạo, hoạt động quyên góp vì người
nghèo; ủng hộ đồng bào bão lụt, sóng thần;
ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; hoạt
động vì môi trường xanh sạch đẹp, hay những
hoạt động chung tay chống lại đại dịch
HIV-AIDS, ma tuý...
Tuy nhiên, sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong cơ
chế thị trường tất yếu sinh ra phân hoá giàu
nghèo, mâu tthuẫn lợi ích… Điều đó, có thể dẫn
tới sự biến dạng của nhân cách. Từ chỗ
giá trị nhân cách của con nguời được xác định
trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng
đồng cũng như trách nhiệm và sự đóng góp
của họ đối với gia đình, làng xã, dân
tộc, trong tình thế phải lựa chọn, con người
sẵn sàng hy sinh bản thân để giải phóng dân
tộc, quê hương, đến chỗ đề cao quá
mức vai trò cá nhân trong sự tách rời với quê hương
và cộng đồng xã hội, đề cao giá trị vật
chất mà hy sinh mọi giá trị khác chỉ vì cuộc sống
cá nhân ích kỷ. Nhiều người
chưa có nhận thức đúng
đắn về mối quan hệ giữa cá nhân với
tập thể, và đặc biệt là giữa các cộng
đồng nhỏ với cộng đồng lớn
nhất là đối với quốc gia, dân tộc. Ý thức cộng đồng là
truyền thống tốt đẹp của dân tộc
hiện nay đang bị chủ nghĩa cá nhân, tư
tưởng biệt phái, cục bộ địa
phương khép kín trong một bộ phận cán bộ,
nhân dân tác động.
Trong nhận
thức và trong hoạt động thực tiễn cần
chú ý rằng: nếu chừng nào mỗi cá nhân không mạnh
thì tập thể không thể mạnh và ngược
lại; nếu lợi ích mỗi cá nhân không được
đảm bảo thì lợi ích của cộng đồng
cũng bị xâm hại và ngược lại. Nếu các
cơ sở và các đơn vị không xây dựng và phát
triển được tinh thần và ý thức cộng
đồng mạnh thì không thể có ý thức và tinh
thần cộng đồng của cả dân tộc.
Nhưng quá trình xây dựng và phát huy ý thức cộng
đồng của các cộng đồng nhỏ
thường rất dễ biến thành quá trình hình thành và
phát triển của tinh thần cục bộ, cát cứ
tập thể của các cộng đồng nhỏ,
đặt các cộng đồng nhỏ trong thế ly
khai, xung đột với cộng đồng lớn. Ðây
là nguy cơ đã xuất hiện ở một số
nơi (các xóm, các thôn, các dân tộc thiểu số…). Tuy
nhiên, trong không ít trường hợp, việc đề cao
quá mức tính cộng đồng cũng dẫn
đến những tác động và hệ quả tiêu
cực không nhỏ, đó là sự coi thường, xâm
hại lợi ích và quyền tự do cá nhân; là sự
hạn chế thậm chí bóp chết những sáng tạo cá
nhân; là tư duy bình quân cào bằng; là sự thỏa
hiệp vô nguyên tắc theo kiểu "chín bỏ làm
mười", "hòa cả làng"; đặc biệt là thói quen
đem đặt lợi ích của cộng đồng
nhỏ, của bộ phận đi ngược lại với
lợi ích của cộng đồng lớn. Do vậy,
phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa
cá nhân-tập thể-xã hội trên cơ sở giải
quyết đúng, hài hòa mối quan hệ lợi ích cá
nhân-tập thể-xã hội.
Chú thích
- 1
- GS. Vũ Khiêu, Văn hoá
Việt Nam xã hội và con người, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội. 2000, tr. 64.
- 2
- TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây
dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người
Việt Nam,Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 36.
- 3
- GS. Hà Văn Tấn và PGS Chử
Văn Tần, Văn hoá Việt Nam xã hội và con
người (GS Vũ Khiêu chủ biên), Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội. 2000, tr. 115–116.
- 4
- TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây
dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người
Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 51.
- 5
- TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây
dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người
Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 52.
- 6
- TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây
dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người
Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 55.
- 7
- GS. TS. Nguyễn Hùng Hậu, Từ
chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến
chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội.
2008, tr. 44.
- 8
- TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây
dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người
Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr. 30.
- 9
- GS. TS. Nguyễn Hùng Hậu, Từ
chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến
chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2008, tr. 9.
- 10
- TS. Nguyễn Thị Ngân, Xây
dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người
Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2003, tr 56.
|
|
|