CONTENTS
Ancient Western Philosophy
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
Political Philosophy in the Period of Building an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University
Political Economy: A Brief Overview
Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa
The Philosophy of Language and Thought
Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University
Aesthetics
— Mỹ học
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
The Mind-Body Problem
Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Khảo cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences)
 Center for Vietnamese Philosophy > Handbook on Philosophy Last update: 2007-10-14 
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University
 

Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia
phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ

Gs.Ts. Trần Phúc Thăng
Hồ Chí Minh National Political Academy
 
Chính trị là một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội từ thời cổ đại đến ngày nay. Chính trị có mối quan hệ mật thiết với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đặc biệt với kinh tế.

Chính trị là quan hệ giữa các giai tầng xã hội, các cộng đồng dân tộc và các cá nhân với quyền lực chính trị và chủ quyền quốc gia.

Ở Việt Nam hiện nay, chính trị được nghiên cứu bởi các ngành khoa học khác nhau:
  • Chính trị học - khoa học về quyền lực và phương thức cầm quyền.
  • Các khoa học chính trị chuyên ngành; nhà nước pháp luật, lý luận về Đảng, quan hệ quốc tế, khoa học về quyền con người.
  • Các khoa học khác: Tâm lý học, xã hội học, văn hoá học... cũng nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan tới chính trị.

Khác với khoa học cụ thể trên, triết học đi vào những vấn đề cơ bản, chung nhất của chính trị như nguồn gốc chính trị, bản chất của chính trị, đặc trưng của chính trị, vai trò của chính trị trong đời sống xã hội và mối quan hệ giữa các thành viên xã hội (cá nhân, tập đoàn, cộng đồng) với chính trị đặc biệt là các thiết chế chính trị.

Triết học chính trị Việt Nam có thể hiểu là hệ thống các quan điểm hay quan niệm về nguồn gốc, bản chất của các thể chế chính trị Việt Nam, về chủ quyền quốc gia dân tộc, về mối quan hệ của nhà nước với các thành viên xã hội, giữa nhà nước với xã hội nói chung.

Triết học chính trị Việt Nam cũng như triết học chính trị của mọi quốc gia, ngay từ đầu chưa xuất hiện với tư cách là một lý luận độc lập. Nó thường là một bộ phận của tư tưởng xã hội và có quá trình phát triển từ thấp đến cao tùy thuộc vào sự phát triển của lịch sử. Thực tế ở Việt Nam cũng không có sự khác biệt giữa tư tưởng chính trị và triết học chính trị. Tư tưởng chính trị ở Việt Nam cũng là những quan điểm chung nhất về chính trị hay nói cách khác cũng chính là triết học chính trị Việt Nam. Vì vậy, hệ thống tư tưởng chính trị Việt Nam từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XX cũng có thể xem là triết học chính trị Việt Nam.

Nghiên cứu lịch sử Việt Nam, các nhà sử học, chính trị học chia ra các thời kỳ:

  1. Thời kỳ tiền sử. Thời kỳ bắt đầu từ khi con người xuất hiện trên đất nước Việt Nam (cách đây 40–50 vạn năm) cho đến cuối thời đại đồ đá mới.  Đây là thời kỳ còn để lại dấu ấn ở vùng núi Đọ (Thanh Hóa), Sơn Vi (Phú Thọ) và tỉnh Hòa Bình (văn hoá Hòa Bình). Mặc dù dân cư trong thời kỳ này đã biết trồng trọt, làm đồ gốm, có những hiểu biết về thời gian, về tự nhiên nhưng chưa có nhà nước, chưa có chính trị.
  2. Thời kỳ sơ sử. Theo các tài liệu lịch sử, cách đây khoảng 4000 năm, dân cư trên lãnh thổ Việt Nam đã tập trung vào 3 trung tâm văn hoá lớn là Đông Sơn (Miền Bắc), Sa Huỳnh (Miền Trung) và Đồng Nia (Miền Nam).  Từ thời kỳ này Việt Nam đã bước vào thời đại kim khí, xã hội bắt đầu có nhà nước và có chính trị.
  3. Thời kỳ chống Bắc thuộc (từ thế kỷ II đến thế kỷ X).
  4. Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập (từ thế kỷ X – XIX).
  5. Thời kỳ chống Pháp (Giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).
  6. Thời kỳ cách mạng dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (từ 1930 đến nay).

Trong mỗi thời kỳ lịch sử này, các tư tưởng chính trị có những sự phát triển qua từng nấc thang khác nhau tùy thuộc vào những diễn biến cụ thể của lịch sử.

Như vậy, tư tưởng chính trị Việt Nam chỉ xuất hiện từ thời sơ sử và phát triển cho đến nay.

I. Tư tưởng chính trị thời sơ sử.

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Vào thế kỷ thứ VII trước công nguyên, các nền văn hoá bộ lạc ở Việt Nam mất dần tính địa phương, tạo ra một nền văn hoá thống nhất - văn hoá Đông sơn. Đó cũng là lúc các bộ lạc liên kết với nhau để tạo ra một quốc gia thống nhất là nước Văn Lang. Phạm vi của nhà nước này mở rộng từ biên giới Việt Trung đến Quảng Ninh ngày nay. Các nhà nghiên cứu Việt Nam phần lớn đều cho rằng quốc gia Văn Lang là nhà nước sơ khai đã hình thành trên nền văn hoá Đông Sơn.

Dựa vào các tài liệu khảo cổ học, các tài liệu thành văn (sử cũ của Trung Quốc và Việt Nam), có thể thấy nhà nước Văn Lang được sắp xếp bộ máy cai trị theo ba cấp: đứng đầu nhà nước là vua Hùng (ngôi vị này được cha truyền con nối), thứ hai là các lạc hầu, lạc tướng, bên dưới có 15 bộ lạc. Nhà nước có luật riêng mà sách Trung Quốc viết là "luật Việt" khác với "luật Hán" của Trung Quốc. Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đã đánh dấu sự ra đời của chính trị và từ đó tư tưởng chính trị đã hình thành.

2. Tư tưởng chính trị.

Tư tưởng chính trị thời kỳ này vừa được ghi lại trong sử sách vừa được truyền bá rộng rãi qua các huyền thoại, các truyền thuyết.

Tư tưởng về một quốc gia độc lập, có chủ quyền, không chịu khuất phục các thế lực bên ngoài, dù lớn mạnh hơn nhiều lần, là tư tưởng chính trị hình thành ngay từ thời kỳ đầu dựng nước.

Tư tưởng này đã tạo nên sức mạnh để chiến thắng quân Tần, một đế chế mạnh nhất châu Á thời bấy giờ. Tần Thủy Hoàng đã đánh bại 6 cường quốc khác và lần đầu tiên thống nhất được Trung Quốc. Nhưng quân Tần đã bị thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài khoảng từ 214 đến 208 trước công nguyên và phải rút về nước.

Tư tưởng độc lập dân tộc còn thể hiện ở sự hợp nhất hai nhà nước Tây Âu và Lạc Việt thành nhà nước mới là Âu Lạc do Thục Phán đứng đầu để chống ngoại xâm. Nhà nước Âu Lạc tiếp tục trên cơ sở kế thừa những thành tựu của Văn Lang đã tăng cường xây dựng và củng cố các lực lượng quân sự, xây dựng một đạo quân khá mạnh, sử dụng thành thạo các cung tên (hiện đã đào được hàng vạn mũi tên ở Thành Cổ Loa), xây thành kiên cố để chống ngoại xâm.

Nhờ có lực lượng quân sự vững mạnh và sự thống nhất ý chí của toàn dân nên nhà nước Âu Lạc đã đánh bại nhiều cuộc xâm lược của Triệu Đà (Trung Quốc) buộc Triệu Đà phải thay đổi đối sách và dùng quỉ kế mới xâm lược được Âu Lạc.

Tư tưởng quốc gia độc lập còn thể hiện ở các truyền thuyết, đặc biệt là truyền thuyết "Con rồng, cháu tiên", "Con lạc, cháu Hồng" được ghi lại trong "Lĩnh nam chích quái" từ thế kỷ XIV và được ghi vào chính sử của Việt Nam từ thế kỷ XV. Tư tưởng trong các truyền thuyết trên đã chứng tỏ người dân Việt Nam hết sức tự hào về nòi giống của mình. Có lẽ cũng xuất phát từ đó mà ở Việt Nam xuất hiện một triết lý chính trị căn bản là: Yêu nước thương nòi.

Đối với người Việt Nam, yêu nước cũng là yêu chính nòi giống của mình. Bảo vệ đất nước cũng là bảo vệ nòi giống của mình. Chính điều này đã làm cho tình cảm yêu nước trở nên gần gũi, gắn bó với người Việt Nam. Đó là triết lý chính trị, cũng là triết lý sống của người Việt Nam.

II. Triết lý chính trị trong thời kỳ từ thế kỷ thứ II (trước công nguyên) đến thế kỷ X.

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Thời kỳ từ thế kỷ thứ II (TCN) đến thế kỷ thứ X, các sách sử của Việt Nam gọi là thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc.

Thời kỳ này bắt đầu từ 179 (TCN) khi nhà Triệu đặt được ách thống trị lên Việt Nam, mở đầu cho các triều đại phong kiến phương Bắc nối tiếp nhau tìm cách đô hộ Việt Nam. Điểm kết thúc của thời kỳ này là năm 905, khi nhân dân Việt Nam lật đổ được ách thống trị của nhà Đường (Trung Quốc), giành lại quyền độc lập tự chủ và bước vào giai đoạn xây một quốc gia độc lập.

Đặc điểm của thời kỳ này là khi đặt được ách thống trị lên Âu Lạc, chính quyền phương Bắc đã tìm cách chia lại các khu vực hành chính, phân nhỏ Âu Lạc thành các bộ phận (quận, huyện như những quận huyện của Trung Quốc) và cử quan lại nắm giữ tới các quận. Có thời kỳ chúng còn với tay tới các làng xã nhằm trực tiếp khống chế nhân dân ở từng địa phương. Chúng xây dựng một tổ chức quan lại từ trên xuống dưới, luôn duy trì một lực lượng đội quân thường trực khá mạnh, xây dựng các thành quách kiên cố để giữ vững sự thống trị của mình.

Các thế lực xâm lược ra sức chiếm đất đai, lập đồn điền. Chúng khai thác các sản phẩm quí hiếm, bắt dân chúng đóng góp nặng nề và phục dịch bộ máy quyền lực của chúng một cách vô điều kiện. Chính sách đàn áp dã man và sự bóc lột, vơ vét triệt để của quân xâm lược đã đẩy nhân dân Việt Nam vào con đường cùng khốn, đau thương, chết chóc. Đồng thời các chính quyền phương Bắc cũng luôn đẩy mạnh quá trình đồng hoá Việt Nam. Từ đầu công nguyên, nhiều Nho sĩ có tài của Trung Quốc đã được đưa sang Việt Nam để mở trường dạy học, truyền bá tiếng Hán. Chúng đưa dân Hán di cư sang Việt Nam để thay đổi cả phong tục tập quán trong cuộc sống. Mục đích của chúng là xóa bỏ mọi yếu tố truyền thống của văn hoá Âu lạc.

2. Tư tưởng chính trị.

Tư tưởng chính trị cơ bản của thời kỳ này, nổi bật vẫn là tư tưởng yêu nước, thương nòi, căm thù quân xâm lược và quyết tâm vùng dậy giành lại độc lập cho giang sơn đất nước.

Tư tưởng đó luôn được nung nấu trong tâm khảm của từng con người Việt Nam và nó được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa điển hình trong suốt thời kỳ Bắc thuộc.

Cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên là khởi nghĩa của hai nữ anh hùng là Trưng Trắc và Trưng Nhị (hai chị em ruột) con lạc tướng huyện Mê Linh, dòng dõi vua Hùng nổ ra vào năm 40. Cuộc khởi nghĩa này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi, giành được thắng lợi, giải phóng cả 4 quận đã bị xâm chiếm, giành lại nền độc lập tự chủ của đất nước.

Trưng Trắc và Trưng Nhị đã xưng vương và xây dựng đất nước trong vòng hai năm. Sau đó, nhà Hán phải dùng đại binh để khôi phục lại quyền thống trị của chúng. Mục đích của cuộc khởi nghĩa là "đến nợ nước, trả thù nhà"

Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (248)

Lịch sử còn ghi lại câu nói của Triệu Thị Trinh: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người".

Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công nhưng đã trở thành niềm tự hào, thành niềm kiêu hãnh của cả dân tộc Việt Nam trong suốt hàng ngàn năm lịch sử.

Cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổ ra vào năm 542, được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và chỉ trong ba tháng đã giành lại quyền làm chủ đất nước.

Năm 544, Lý Bí xưng là Hoàng đế, dựng triều đình và đặt tên nước là "Vạn Xuân". Điều đó đã thể hiện tư tưởng về một sức sống trường tồn của một dân tộc. Sau đó, nhân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Triệu Quang Phục (thay Lý Nam Đế) còn đánh bại nhiều cuộc xâm lược và duy trì được nền độc lập của đất nước cho đến tận năm 602.

Chính từ sau sự ra đời của nhà nước "Vạn Xuân" ý thức độc lập của người Việt ngày càng được nâng cao.

— Đầu thế kỷ thứ VIII có cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (năm 722). Mai Thúc Loan đã xưng làm Hoàng đế, xây dựng thành trên núi và lấy vùng hiểm yếu làm căn cứ chống giặc.

— Cuối thế kỷ VIII có cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng đã chiếm được phủ Thành, tổ chức lại bộ máy cai trị, xây dựng đất nước được mấy năm và được nhân dân suy tôn là "Bố Cái Đại Vương".

— Thế kỷ X, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ đã nổ ra và giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 905, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, mở ra một giai đoạn mới của lịch sử Việt Nam, giai đoạn xây dựng một quốc gia độc lập.

Như vậy, tư tưởng chính trị trong suốt thời kỳ Bắc thuộc là tư tưởng đấu tranh để giành lại một quốc gia độc lập, có chủ quyền, bình đẳng với các nước lớn xung quanh.

III. Tư tưởng chính trị thế kỷ X - XI

1. Điều kiện lịch sử.

Thời kỳ này, được mở đầu bằng chiến thắng của cuộc khởi nghĩa do Khúc Thừa Dụ cầm đầu vào năm 905. Chiến thắng này đã chấm dứt sự đô hộ của phong kiến Trung Quốc trong suốt hơn 1.000 năm và chuyển đất nước Việt Nam sang một giai đoạn phát triển mới: thời đại xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ.

Khi cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, nhà Đường ở Trung Quốc lúc đó buộc phải phong ông làm "Tĩnh hải quân tiết độ sử", sau đó lại phong thêm chức "Đông bình chương sự" với dụng ý biến họ khúc trở thành một quan chức của nhà Đường. Nhưng Khúc Thừa Dụ không chấp nhận và khi ông mất, con trai ông lên thay đã tiến hành cải cách, bãi bỏ bộ máy hành chính cũ, xây dựng một xã hội "nhân dân đều được yên vui".

Năm 938, dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nam Hán lại bị thất bại thảm hại. Chiến thắng trên sông Bạch Đằng đã đi vào lịch sử như một huyền thoại không chỉ thể hiện ý chí chiến đấu mà còn thể hiện một trình độ trí tuệ cao trong đấu tranh chống ngoại xâm của người Việt Nam.

2. Tư tưởng chính trị.

Sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng Vương, bãi bỏ chế độ "Tiết độ sứ" trước đây, xây dựng triều đình mới, đóng đô ở Cổ Loa. Điều này đã chứng tỏ tư tưởng về một quốc gia vững mạnh, có chủ quyền.

Năm 981, dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống lại hoàn toàn thắng lợi. Thắng lợi này đã giáng một đòn mạnh vào tư tưởng bành trướng của vua quan nhà Tống.

Năm 968, sau khi thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng) và đặt tên nước là "Đại Cồ Việt". Năm 970, Đinh Bộ Lĩnh bỏ niên hiệu của nhà Tống và tự đặt niên hiệu là "Thái Bình". Đây là những bước chuyển quan trọng của tư tưởng độc lập chính trị. Chính từ đây, một quốc gia độc lập có quốc hiệu riêng và nhà nước riêng thực sự được xác lập. Đất nước trở thành quốc gia có tên tuổi.

Chiến thắng quân Tống và việc xây dựng, củng cố một quốc gia độc lập, có lực lượng quân sự vững mạnh, đã buộc nhà Tống phải phong cho Lê Hoàn làm "Nam Bình Vương".

Qua thực tế lịch sử trên đây, có thể thấy tư tưởng chính trị nổi bật của thời kỳ này vẫn là tư tưởng về một quốc gia độc lập, có chủ quyền và một lãnh thổ thống nhất. Việc cải cách bộ máy hành chính cũ của con trai Khúc Thừa Dụ, việc xưng vương của Ngô Quyền, việc đặt tên nước là "Đại Cồ Việt" của Đinh Bộ Lĩnh, việc nhà Tống phải phong cho Lê Hoàn làm "Nam Bình Vương" đều chứng tỏ tư tưởng về một quốc gia độc lập, tự chủ ngang hàng với phương Bắc. Điều đó đã khiến cho vua Tống phải thừa nhận trước quan chức nhà Tống: "Giao châu độc địa, nếu đem quân sang đánh, chết hại nhiều, nên giữ cẩn thận cõi đất của tổ tông mà thôi" không giám đem quân sang xâm lược.

IV. Tư tưởng triết học chính trị thời kỳ phục hồi và xây dựng các quốc gia độc lập từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV.

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV là giai đoạn phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam.

Mở đầu cho thời kỳ này là sự ra đời của nhà Lý. Việc đưa Lý Công Uẩn, một người có học thức cao lại có đạo đức, biết xử sự đúng, được triều thần nhà Lê quí trọng lên ngôi vua thay cho nhà Tiền Lê đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng về tư duy chính trị.

Thời kỳ này cũng diễn ra các sự kiện lịch sử trọng đại như việc dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội), việc phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, đặc biệt là sự phát triển mạnh của các tư tưởng Phật giáo (thời Lý, Trần).

Về chiến tranh vệ quốc đã có những chiến công nổi bật như chiến thắng của nhà Lê do Lý Thường Kiệt lãnh đạo năm 1077 đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của 30 vạn quân Tống (bao gồm cả lính và phu đi phụ dịch), gây cho quân Tống những tổn hại nặng nề cả về người và của (theo sách Tống sử của Trung Quốc, chi phí cho cuộc chiến tranh này mất 5.100.000 lạng vàng).

Thời nhà Trần đã có chiến công lừng lẫy dưới sự lãnh đạo của vua quan thời nhà Trần. Dưới sự chỉ đạo vô cùng tài trí của TrầnThái Tông và Trần Quốc Tuấn, quân dân thời Trần đã 3 lần chiến thắng quân Nguyên, một đế chế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới cho đến thời bấy giờ.

2. Tư tưởng chính trị thời kỳ này.

Có thể nói tư tưởng chính trị thời kỳ này đã được ghi lại một cách rõ nét trong các văn phẩm chính trị, quân sự còn để lại. Những tư tưởng chính trị thực sự trở thành những triết lý chính trị sâu sắc, thể hiện một tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn lịch sử mới. Nó cũng đánh dấu một bước phát triển mới về tư duy chính trị.

Tư tưởng về chủ quyền, độc lập dân tộc đã chuyển một cách cơ bản thành tư tưởng xây dựng một quốc gia bền vững muôn đời. Tư tưởng này thời trước chỉ được nêu ra thì ở thời kỳ này được hiện thực hoá.

Trong bài "Chiếu dời đô", Lý Công Uẩn đã chỉ rõ đây là do "mưu toan nghiệp lớn" tính kế muôn đời cho con cháu và làm cho "Vận nước được lâu dài, phong tục phồn vinh". Chiếu dời đô viết:

"Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế lâu dài để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giầu của nhiều người, việc lợi như thế ai dám không theo".

Giải thích vị thế đặc biệt của Kinh đô Thăng Long và ý nghĩa lịch sử của nó, Chiếu dời đô viết:

"Xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời."

Như vậy, triết lý chính trị đã được mở rộng từ triết lý chủ yếu là bảo vệ đất nước sang triết lý về xây dựng một quốc gia độc lập, cường thịnh, đem lại hạnh phúc cho nhân dân.

Người dân trong thời kỳ này trở thành một chủ thể chính trị quan trọng.

Trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn khẳng định các bậc vua chúa đều phải "Trên vâng mệnh trời dưới theo ý dân".

Nghiệp lớn không thể không xuất phát từ "ý dân", không thể không đem lại lợi ích cho dân. Đó là một triết lý chính trị quan trọng luôn được tiếp tục phát triển trong lịch sử.

Tư tưởng trọng dân cũng được thể hiện trong một bài văn của Lý Thường Kiệt, khi ông viết "Trời sinh ra dân chúng" và "Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân".

Như vậy, dưới triều Lý, dân được hết sức coi trọng. Những người đứng ở vị trí hàng đầu quốc gia đã thấy cái gốc trị nước chính là thuật yêu dân. Chính vì vậy mà sự nghiệp nhà Lý được lâu bền, tồn tại suốt trong hơn 2 thế kỷ (243 năm).

Đến thời nhà Trần, tư tưởng trọng dân còn được thể hiện rõ hơn nữa.

Vua Trần Minh Tông, thấy dân tình đói khổ đã viết:

"Hết thảy dân sinh đều là đồng bào của ta
Nỡ lòng nào để cho bốn bề khốn cùng".

Trần Quốc Tuấn khi thấy vua muốn xây dựng lại kinh thành sau chiến thắng quân Nguyên năm 1288, đã nói với nhà vua "Chúng chí thành thành" nghĩa là ý chí của dân chúng chính là bức thành. Điều đó chứng tỏ, Trần Quốc Tuấn quan niệm nhân dân, ý chí, tình cảm của nhân dân đối với quốc gia dân tộc, đối với vương triều là bức thành kiên cố vững chắc nhất để bảo vệ hoàng cung. Chính vì vậy, Trần Quốc Tuấn khuyên vua Trần phải "Khoan thứ sức dân" để làm kế "Sâu rễ bền gốc".

Tư tưởng chính trị thời Lý, Trần còn thể hiện ở ý thức xây dựng một nhà nước phong kiến. Trong đó phải nói đến việc xây dựng bộ máy quyền lực, việc sử dụng người hiền và những tư tưởng độc đáo khác như việc thống nhất đạo, Nho, Lão thành hệ tư tưởng chính trị có bản sắc Việt Nam. Song, tư tưởng chính trị nổi bật vẫn là tư tưởng về chủ quyền dân tộc.

Tư tưởng này được thể hiện ở bài thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống.

"Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

Bài thơ trên được xem là bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền độc lập của dân tộc. Bài thơ khẳng định nước Việt Nam là của người Việt Nam do Hoàng đế Việt Nam cai quản. Đó là sự sắp xếp của tạo hoá được ghi tại "sách trời". Địa giới đã được qui định với tất cả ý nghĩa thiêng liêng của nó. Vì vậy, không có lý do gì để những kẻ nghịch tặc ở bên ngoài có thể xâm phạm. Sự xâm phạm phi lý ấy nhất định sẽ làm cho bọn chúng bị thất bại thảm hại.

Thời nhà Trần, tư tưởng bảo vệ đất nước là làm cho "non nước" được "ngàn thu" và làm cho "sơn hà" đời đời bền vững. Điều đó, đã được ghi lại trong các bài thơ của Trần Quang Khải sau khi chiến thắng quân Nguyên.

Tinh thần ấy cũng được thể hiện trong bài "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn. Khi phê phán thái độ vô tâm của tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã viết: "Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không thấy lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường, đãi yến ngụy sứ mà không biết căm". Ông sẵn sàng hy sinh vì đất nước, "dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng". Ông luôn đặt trách nhiệm bảo vệ đất nước lên trên hết.

Những tư tưởng của Trần Quốc Tuấn đã thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa chính trị và quân sự, hình thành những lý luận về chiến tranh giữ nước, đóng góp cho lịch sử chống ngoại xâm, giữ gìn độc lập của dân tộc Việt Nam.

V. Tư tưởng chính trị thời Hậu Lê.

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Cuối thế kỷ XIV, do sự suy yếu của nhà Trần và những chính sách không được lòng dân của nhà Hồ đã làm cho quân Minh (Trung Quốc) lợi dụng tình hình này để xâm lược Việt Nam, tạo nên một thời kỳ hết sức đen tối trong lịch sử Việt Nam trong suốt 20 năm. Mục đích của chúng là:

— Biến Đại Việt trở thành một quận huyện của nhà Minh.

— Triệt để vơ vét tiền của của nhân dân.

— Đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa.

— Thủ tiêu nền văn hoá Đại Việt, xóa bỏ mọi phong tục tập quán cổ truyền, đốt hết các sách vở đã lưu truyền, thực hiện chính sách đồng hoá dân tộc.

Điều này đã gây sự căm phẫn trong nhân dân. Các cuộc khời nghĩa chống quân Minh đã nổ ra mà đỉnh cao là khởi nghĩa Lam sơn (1418 -1427) ở tỉnh Thanh Hóa ngày nay.

So với các cuộc kháng chiến chống xâm lược trước đây thì khởi nghĩa Lam sơn diễn ra trên qui mô lớn nhất với một đường lối chiến tranh có tính tổng hợp. Đây cũng là một cuộc chiến tranh không kết thúc bằng việc tiêu diệt các lực lượng xâm chiếm mà đi đến một hội thề (kiểu ký kết hiệp định) buộc 10 vạn quân Minh phải rút về nước. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị, ngoại giao. Phương pháp binh vận cũng được sử dụng một cách có hiệu quả.

Thắng lợi của khởi nghĩa Lam sơn đã mở ra một giai đoạn phát triển mới. Ngày 29/4/1428 Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế, khôi phục lại tên nước mới là Đại Việt mở đầu cho triều đại mới của nhà Lê gọi là Hậu Lê hay Lê Sơ để phân biệt với nhà Tiền Lê ở thế kỷ X. Triều đại này tồn tại từ 1428 cho đến 1503.

Đây là thời kỳ nhà nước phong kiến phát triển đến đỉnh cao trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục. Đặc biệt trong lĩnh vực tinh thần, Nho giáo được sử dụng rộng rãi trong giáo dục và trong chính trị.

2. Tư tưởng chính trị.

Tư tưởng chính trị thời kỳ này được thể hiện tập trung ở tư tưởng của Nguyễn Trãi và của Lê Thánh Tông.

a. Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi (1380 – 1442)

Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông mà điển hình là trong "Cáo bình Ngô", một áng văn bất hủ, bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của Việt Nam. Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi mang tính triết lý sâu sắc, phản ánh kiến thức uyên bác của ông về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo cũng như về lịch sử, văn hoá dân tộc, cuộc sống của nhân dân.

Có thể xem Nguyễn Trãi là người đầu tiên nêu lên những yếu tố cơ bản của một quốc gia có chủ quyền. Trong các bức thư gửi cho tướng giặc, Nguyễn Trãi luôn khẳng định Đại Việt là một quốc gia độc lập nằm ngoài lãnh địa Trung Quốc, có một nền văn hoá riêng. Trong Cáo bình Ngô, ông khẳng định:

"Xét như nước Đại Việt ta
Thật là một nước văn hiến
Bờ cõi sông núi đã riêng
Phong tục Bắc nam cũng khác".

Như vậy, quan niệm về quốc gia dân tộc, ở Nguyễn Trãi đã được hiểu với một nghĩa đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn nhiều so với giai đoạn lịch sử trước.

Tư tưởng chính trị nổi bật ở Nguyễn Trãi còn là tư tưởng "nhân nghĩa". Mặc dù "nhân", "nghĩa" là phạm trù mà Nho giáo đã sử dụng, song ở Nguyễn Trãi "nhân nghĩa" lại có những nét riêng, độc đáo và trở thành một phạm trù chính trị – xã hội rõ rệt.

Nguyễn Trãi viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Vì vậy, mục đích của các cuộc chiến tranh của Việt Nam không phải để "đánh chém" mà muốn "để người ta sống" làm cho "dân yên".

Quan niệm về "dân" trong tư tưởng của Nguyễn Trãi được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những dân cày, những điền nô, gia nô, tôi tớ, những người lao khổ trong xã hội.

Nguyễn Trãi kể tội quân giặc, trước hết là tội

"Treo dân đen trên lò bạo ngược
Hầm con đỏ dưới hố tai ương"

Vì vậy mà phải dùng binh, nhưng "binh cốt để bảo vệ dân". Dân trong tư tưởng Nguyễn Trãi không chỉ là những người cần phải cứu vớt mà sức mạnh của dân còn là sức mạnh cơ bản, là nền tảng của quốc gia. Vì dân "Như con sông chở thuyền và lật đổ thuyền cũng lại là dân". Theo ông "Dân mà không tin thì nước không thể đứng vững được. Chính nhân dân đã góp công góp của cho chiến tranh để tạo nên một đội quân hùng mạnh: "Gươm mài đá núi cũng mòn. Voi uống nước, nước sông phải cạn". Nhờ vậy mà có chiến thắng.

Tư tưởng "yên dân" là tư tưởng cốt yếu của nhân nghĩa. Tư tưởng nhân nghĩa còn là dùng nhân nghĩa để chiến thắng, tổng kết cuộc kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi viết:

Trọn hay,
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cườn g bạo.

Vì vậy, mặc dù sức mạnh như "chẻ tre", Nguyễn Trãi vẫn kêu gọi tướng giặc cầu hòa, ông không muốn để những người dân vô tội phải chết uổng... Khi quân giặc đã thất bại, chúng vẫn được cấp cho 500 chiếc thuyền và 10 cỗ xe ngựa cùng đầy đủ lương thực, thực phẩm để về nước được chu toàn.

Cũng với tư tưởng nhân nghĩa này, Nguyễn Trãi đã chủ trương xây dựng một chính quyền trong sạch, chống tham quan ô lại để có được cuộc sống yên vui cho người dân ở tận các nơi thôn dã. Nhà nước theo ông phải có kỷ cương, có luật lệ nghiêm chỉnh nhưng đồng thời cũng phải là nhà nước "nhân chính" vì pháp lệnh phải "để lòng vào nhân nghĩa." Nhờ theo tư tưởng đó mà đất nước Đại Việt thế kỷ XV đã trở thành một quốc gia giàu mạnh khiến "người phương xa sợ uy, mến đức đều đến tỏ lòng thành thực để xem cảnh tượng thái bình".

b. Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông (1442 – 1497).

— Về tinh thần dân tộc, Lê Thánh Tông đã phê phán quan điểm của Nho giáo quá đề cao thời Nghiêu Thuấn, cho đó là xã hội lý tưởng mà ngày nay không được như ngày xưa. Vì thế, có lúc Lê Thánh Tông đã ví triều đại của mình như triều đại Nghiêu Thuấn.

Xã hội mà Lê Thánh Tông chủ trương xây dựng có 4 đặc trưng là: đất nước hòa bình, nhân dân no ấm, lễ giáo phát triển và quyền thống trị thuộc về nhà Lê. Lê Thánh Tông đã có một đường lối trị nước phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ. Đó là đường lối "Văn trị" hay "Lễ trị" hoặc "Đức trị".

Khi lên cầm quyền, Lê Thánh Tông đã chủ trương xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền cao độ, tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế. Ông cũng đã thực hiện triệt để một cuộc cải cách hành chính có qui mô lớn trong phạm vi toàn quốc nhằm vào các mục tiêu kinh tế, chính trị - xã hội mà ông đã đặt ra. Mục đích của ông là xây dựng một quốc gia Đại việt hùng mạnh, đủ sức đối trọng với các nước trong khu vực và đặc biệt là đối với nhà Minh, một đế chế mạnh nhất ở Châu Á thời bấy giờ. Chính vì thế, Lê Thánh Tông rất coi trọng pháp luật. Các qui chế hoạt động của nhà nước triều Lê, từ Lê Thái Tổ được tổng hợp, bổ sung và xây dựng thành "Quốc triều hình luật" vào năm 1483 (luật Hồng Đức). Trong bộ luật này có tới 400 điều hoàn toàn không có trong các triều đại phong kiến Trung Quốc. Các điều luật thể hiện rõ đặc trưng văn hoá Việt Nam, chú ý đến quyền lợi và địa vị của phụ nữ trong gia đình, đến vấn đề hôn nhân, sở hữu tài sản, tôn trọng phong tục của các dân tộc thiểu số, người già, trẻ mồ côi...

Lê Thánh Tông chú ý đến việc thực thi pháp luật và đặc biệt chú trọng việc xây dựng đội ngũ quan lại của ngành luật. Tư tưởng chính trị tiến bộ của Lê Thánh Tông đã có tác dụng thực tế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, ngoại giao... tạo nên một thời kỳ phát triển phồn thịnh của nước Việt Nam.

Tuy nhiên, sau khi nhà Lê đưa xã hội phong kiến Việt Nam phát triển đến tột đỉnh nó cũng làm cho chế độ phong kiến Việt Nam đi vào giai đoạn cuối. Về cuối đời, tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông đã bộc lộ nhiều hạn chế, xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực. Điều đó đã làm cho nhà Lê và cả chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ suy thoái.

VI. Triết học chính trị Việt Nam từ thế kỷ XVI – XVIII.

1. Những đặc điểm về kinh tế – xã hội.

— Từ 1505 – 1516 các triều đại nhà Lê trở nên mục nát. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra và từ năm 1511, phong trào nông dân đã mở rộng đến năm 1522. Năm 1527 đã kết thúc vai trò của nhà Lê sau 100 năm. Điều này đã tạo ra những xung đột lớn trong giai cấp phong kiến và hậu quả của nó là những cuộc tranh giành quyền lực kéo dài.

Những cuộc xung đột này đã ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống nhân dân đặc biệt là nông dân. Vì vậy, mặc dù các triều đại, khi ổn định được vai trò thống trị của mình đã có những chính sách kinh tế, xã hội ... để phát triển đất nước nhưng sự phát triển của xã hội cũng rất hạn chế. Những mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc và thế kỷ XVIII đã trở thành thời kỳ của các cuộc khởi nghĩa nông dân.

Cuối thế kỷ XVIII, cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đã nổ ra, khởi nghĩa Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa này đã đánh bại quân xâm lược Xiêm ở phía nam vào năm 1783 và đại thắng quân Mãn Thanh ở phía Bắc vào năm 1789, thống nhất được đất nước Việt Nam sau gần 300 năm bị chia cắt. Sau khi giành thắng lợi, Quang Trung (Nguyễn Huệ) đã có nhiều cải cách tiến bộ nhưng do triều Tây Sơn không ổn định lâu dài nên Nguyễn Ánh, được Pháp giúp đã đánh bại Tây Sơn lập nên Vương triều nhà Nguyễn cho đến khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược.

2. Triết lý chính trị.

Ở thế kỷ XVI – XVIII, tư tưởng chính trị được biểu hiện khá đa dạng. Trong giai đoạn này, các nhà tư tưởng tiêu biểu có thể nói tới là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dư, Phùng Khắc Khoan, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhậm. Họ đều là những người có học thức cao, có tham gia hoạt động triều chính ít hoặc nhiều.

Tư tưởng chính trị chủ yếu của thời kỳ này là tư tưởng Vương đạo tức là dùng đức để cai trị chứ không dùng sức mạnh bạo lực, lên án tư tưởng bá đạo xưng hùng, xưng bá, áp bức người khác.

Những nhà triết học chính trị tiêu biểu của thời kỳ này có thể kể đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dư, Phùng Khắc Khoan, Lê Quí Đôn và Ngô Thì Nhậm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), đỗ trạng nguyên dưới triều Mạc nhưng chỉ làm quan 8 năm sau về quê mở trường dạy học. Ông phê phán chiến tranh và sự tranh chấp quyền lực, phủ định đường lối bá đạo. Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao tư tưởng nhân nghĩa, muốn đất nước được hòa bình và nhà nước phải cứu vớt những người nghèo khổ. Ông khẳng định: "Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả" và ông quan niệm "Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước cốt phải lấy lòng dân". Việc xác định nhà nước phải quan tâm tới dân nghèo là một tư tưởng mới, thể hiện sự tiến bộ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Dư, tác giả của tác phẩm "Truyền kỳ mạn lục", học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, không ra làm quan nhưng có quan điểm chính trị rõ ràng và cũng là người đề cao vương đạo. Theo ông, "kẻ trị thiên hạ nên tiến lên đến đạo thuần vương". Ông nói: "Tôi nghe làm người không ngoài trời đất để mà sống, làm chính trị không ngoài cương thường để dựng nước".

Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) cũng đề cao tư tưởng nhân nghĩa. Ông nói: "Dựa vào điều nhân, giữ lấy điều nghĩa là công việc của nhà nho ta, có thể cứu đời và yên dân mới có chí khí hào hùng". Nhân nghĩa còn là con đường để nhà vua có thể cứu dân, cứu nước. Ông nói: "Như nói đến phương sách cứu nước, cứu dân thì nhân nghĩa là vị thuốc xin dâng nhà vua" Ông luôn mong mỏi một xã hội yên bình tốt đẹp như thời Nghiêu Thuấn ở trong sử sách Trung Hoa trước đây.

Đến Lê Quí Đôn (1726 – 1784) thì triết lý chính trị đã có một bước tiến rõ nét so với các nhà tư tưởng thế kỷ XVII. Lê Quí Đôn là người học rộng, đỗ đầu trong các cuộc thi, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, có cống hiến nhiều về học thuật và có tầm nhìn rộng.

Lê Quí Đôn là người có ý thức xây dựng một nền văn hoá dân tộc, sưu tập, hệ thống hoá các tác phẩm thi văn từ thời Lý đến thời Lê. Ông đề cao các nhân tài của đất nước, phê phán thái độ xem thường người Việt và sự xâm lấn đất đai của phong kiến Trung Quốc. Ông đánh giá cao những sản vật vốn có của đất nước. Điều đó đã nêu cao lòng tự hào dân tộc và bồi đắp thêm ý chí dân tộc, tự cường. Mặt khác, Lê quí Đôn cũng là người đã thấy được những hạn chế của văn hoá truyền thống Trung Quốc và mở rộng việc nghiên cứu về các tài liệu thiên văn, địa lý, khoa học ở phương Tây. Vì vậy, về quan điểm chính trị, Lê Quí Đôn có những điểm khác biệt với các nhà nho đương thời. Theo ông, sự nghiệp của các vua chúa phải là Vương đạo cộng với Bá đạo. Do đó đường lối trị nước không phải là Nho giáo mà là Nho gia cộng với Pháp gia. Cách xử lý công việc phải kết hợp mềm với cứng, Nhân nghĩa phải đi đôi với "thuật" và "thế". Việc đánh giá con người theo ông không chỉ dựa vào đức mà còn phải dựa vào tài. Có thể nói ở Lê Quí Đôn đã thể hiện rõ một sự chuyển biến về tư tưởng chính trị.

Tư tưởng chính trị mới còn được thể hiện ở Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803).

Ngô Thì Nhậm cho xã hội loạn lạc không phải do trời mà do các chính sách của triều đình gây ra. Trong xã hội, ông chú ý đến hai lực lượng cơ bản là dân và quan lại. Theo ông, dân là trung tâm của vũ trụ, của mối quan hệ trời – người. Ông nói: "Trời trông, trời nghe do ở dân. Lòng dân yên định thì ý trời cũng xoay chuyển", "trong nước yên là nhờ ở được lòng dân". Để được lòng dân thì phải có các chính sách làm cho dân được "thỏa dạ" binh sĩ dược "vừa ý", phải bãi bỏ các chính sách gây ra tham nhũng làm cho dân điêu tàn.

Lực lượng thứ hai ông chú ý là hàng ngũ quan lại. Theo ông, quan lại phải là những người vừa có văn tức là có tri thức vừa có hạnh tức là có đạo đức.

Người có hạnh, theo ông là người sống trong sạch, biết liêm sỉ và có khí tiết. Đồng thời họ phải thức thời, nhạy cảm và phải dũng cảm để có những quyết định sáng suốt.

Mặc dù nhấn mạnh đến yêu cầu người làm quan phải biết liêm sỉ, nhưng Ngô Thì Nhậm đã có con mắt nhìn thực tế, không nói giáo lý một chiều theo kiểu Nho giáo. Theo ông, nguyên nhân của tình trạng thầy giảng dạy không tinh, đại thần xử phạt không công minh, quan lại không liêm khiết không phải chỉ là do đạo đức kém mà mấu chốt lại do sự thiếu thốn mà ra. Ông cho đó là điều khẩn cấp và "Nếu không nắm được mấu chốt, thì dù "trí" có thể biết được, nhưng "thế" không vươn tới được. Vì vậy, theo ông, "Điều mấu chốt là hãy đem cài tình trạng thiếu thốn và cái thực sự thiếu thốn mà nghiên cứu chỉnh lý lại đã. Đó là tâm pháp làm trị của muôn đời".

Quan điểm lấy việc làm cho dân được no đủ, quan lại được sung túc là công việc cơ bản, là một tư tưởng tiến bộ đã tiếp cận với các tư tưởng mới.

Như vậy, ở thế kỷ XVIII, tư tưởng chính trị đã có nhiều điểm mới mà các giai đoạn lịch sử trước chưa có. Đó là dấu hiệu của bước chuyển từ tư tưởng chính trị phong kiến sang tư tưởng chính trị của thời cận đại có tính dân chủ tư sản.

VII. Triết học chính trị dân chủ tư sản Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Sau khi liên quân Pháp – Anh đánh xong Quảng Châu (Trung Quốc), Pháp đã liên minh với Tây ban nha kéo tới dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc xâm lược này gặp sự chống trả quyết liệt của nhân dân Việt Nam và các sĩ phu yêu nước. Thực dân Pháp đã phải chịu những tổn thất nặng nề. Song do triều đình phong kiến Việt Nam lúc đó yếu hèn nên ngày 6/6/1884 điều ước Patơnốt đã được triều đình Huế ký, đặt cơ sở cho sự đô hộ lâu dài của thực dân Pháp ở Việt Nam với những chính sách đàn áp bóc lột hết sức vô nhân đạo của chúng. Lịch sử Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX lại trở thành lịch sử của các phong trào đấu tranh giành độc lập nối tiếp nhau của nhân dân Việt Nam.

Từ khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu phong kiến yêu nước, phong trào đấu tranh giành độc lập đã nổi lên khắp từ phía Bắc chí Nam. Đó là phong trào Cần Vương. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, căn bản các phong trào này đều thất bại. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái, một cuộc khởi nghĩa tự phát của nông dân kéo dài từ 1884 đến 1913 có qui mô lớn nhưng cuối cùng cũng không thành công. Điều này đã chấm dứt tư tưởng khôi phục nhà nước phong kiến Việt Nam.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914) và sau đó là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933). Trong quá trình này, chúng lập ra một bộ máy thống trị chặt chẽ từ Trung ương đến Địa phương, mở rộng các ngành nông nghiệp, khai thác mỏ, thương nghiệp để tận thu các nguồn của cải, tạo ra những chuyển biến đáng kể về kinh tế, xã hội.

Trong điều kiện này đã hình thành những tư tưởng chính trị mới, đặc biệt là tư tưởng cách mạng dân chủ của những nhà cách mạng cấp tiến như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học.

2. Tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản.

a. Tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu.

Phan Bội Châu (1867 – 1941) có mục đích chính trị là: khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập, dưới hình thức một nhà nước quân chủ lập hiến. Phương pháp cách mạng của ông là dùng cách mạng bạo lực để giành chính quyền và xuất dương cầu viện. Ông đã thành lập Duy tân hội, "lập Hội Đông Á đồng minh" để đoàn kết với các chí sĩ lưu vong Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Philippin hiện sống ở Nhật Bản. Ông đã tổ chức phong trào Đông du, đưa được 200 thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học để chuẩn bị lực lượng cho cách mạng. Phan Bội Châu cũng đã thành lập Việt Nam quang phục hội (1912), chủ trương đánh đổ thực dân Pháp, thành lập cộng hòa dân quốc Việt Nam. Tư tưởng của Phan Bội Châu lúc đầu chỉ "Cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác". Sau khi sang Nhật, ông hình thành tư tưởng "Khôi phục nước Việt Nam, lập thành nước quân chủ lập hiến" và cuối cùng là tư tưởng giành độc lập, xây dựng chế độ dân chủ. Nhưng từ 1925, sau khi bị Pháp bắt đưa về Huế ông đã viết tác phẩm chủ nghĩa xã hội và ca ngợi chủ nghĩa xã hội.

Xuất phát từ tinh thần yêu nước, Phan Bội Châu đã trở thành nhà tư tưởng dân chủ tư sản tiêu biểu đầu thế kỷ XX ở Việt Nam.

b. Tư tưởng của Phan Châu Trinh.

Khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh (1872 – 1926) có khuynh hướng dân chủ tư sản thông qua con đường cải cách xã hội. Nhiệm vụ cấp bách mà Phan Châu Trinh đề ra là thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, xóa bỏ tư tưởng chuyên chế, bồi dưỡng dân trí đặc biệt là bồi dưỡng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa, phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất hàng hoá. Ông yêu cầu chính quyền thuộc địa thay đổi chính sách cai trị hiện hành như mở rộng dân chủ, cải cách về văn hoá, giáo dục, tạo điều kiện phát triển công thương nghiệp để nhân dân Việt Nam có thể từng bước đi tới văn minh. Ông đề cao phương châm "Tự lực khai hoá", tuyên truyền tư tưởng dân quyền: ông lên án chính quyền đô hộ Pháp dùng quan lại Việt Nam làm cho dân điêu đứng, phê phán chính phủ bảo hộ Pháp xem thường dân sĩ Việt Nam gây nên sự phẫn uất trong nhân dân.

Tháng 10/1908, Phan Châu Trinh sang Pháp. Ông đã tham gia lập "Hội đồng bào thân ái" gồm những Việt kiều gắn bó với quê hương. Ông tiếp xúc với các nhân vật cấp cao ở Bộ thuộc địa. Ông cho rằng phải nhìn Việt Nam trong mối quan hệ với thế giới với cả quá khứ và tương lai. Ông yêu cầu vua Khải Định phải thoái vị "Chớ vì bằng thói cũ không chừa, choán cái ngôi chí tôn, ra cái ngôi chuyên chế hãm chìm quốc dân xuống cái vực sâu thẳm đời đời". Theo ông, chuyên chế nếu không mất ngôi thì mất nước vì "cái độc quyền quân chủ nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân Việt Nam ta, nó làm cho dân ngu muội không biết nước là gì".

Phan Châu Trinh là người đề xướng tư tưởng dân chủ dân quyền sớm ở Việt Nam và là nhà nho tiêu biểu đã tuyên chiến với chế độ quân chủ, vận động, đấu tranh để thành lập nên cộng hòa dân chủ.

Mặc dù đường lối cách mạng của Phan Châu Trinh không đưa sự nghiệp của ông đến thành công nhưng ở đây đã thể hiện một lập trường chính trị mới tạo tiền đề cho những biến đổi về tư tưởng chính trị sau này.

VIII. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau thất bại của phong trào Cần vương, của các phong trào cách mạng mang tính dân chủ tư sản, cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối. Hồ Chí Minh (1890 – 1969) xuất thân trong một gia đình yêu nước. Trước sự thống khổ của đời sống nhân dân Người đã quyết định đi theo một con đường mới. Năm 1911 Hồ Chí Minh sang Pháp, vừa làm công nhân vừa học tập. Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng về dân tộc và thuộc địa của Lênin và tìm ra hướng đi cho cách mạng Việt Nam . Năm 1920 Hồ Chí Minh là một thành viên của Đảng xã hội Pháp đã bỏ phiếu tán thành gia nhập quốc tế cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp. Từ 1923 Hồ Chí Minh sang Liên Xô, cuối năm 1924 về Trung Quốc để lập ra tổ chức cách mạng mácxít là "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội".

Năm 1930 Hồ Chí Minh thống nhất ba tổ chức cộng sản ở Đông dương và lập ra một Đảng cộng sản Việt Nam. Từ năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi tạo nên những kỳ tích trong thế kỷ XX.

2. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh

Tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng này đề cập đến các phương diện khác nhau về chính trị từ đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đến nguyên tắc cơ bản để xây dựng một chế độ xã hội mới và bảo vệ vững chắc nền độc lập của đất nước, xây dựng một quốc gia giàu mạnh. Tư tưởng này có tiền đề lý luận là những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử Việt Nam, trong di sản văn hoá nhân loại, là chủ nghĩa Mác – Lênin và điều kiện cụ thể của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh hết sức phong phú và có những nội dung nổi bật là:

a. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Như tất cả mọi người dân Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn nêu cao tư tưởng độc lập dân tộc. Tư tưởng này được đúc kết trong luận điểm "Không có gì quí hơn độc lập tự do". Hồ Chí Minh cho rằng "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Nhưng theo Hồ Chí Minh độc lập dân tộc phải gắn liền với hạnh phúc của nhân dân vì "Nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thì độc lập không có ý nghĩa gì".

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản và đi tới kết luận: dân chỉ có thể được hưởng hạnh phúc khi đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội bởi các cuộc cách mạng tư sản trên thế giới thực tế đã không đem lại hạnh phúc cho mọi người dân.

b. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết là tư tưởng chiến lược quan trọng hàng đầu trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh.

Theo Hồ Chí Minh, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Có sức mạnh đoàn kết thì cách mạng nhất định thắng lợi.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.

Sức mạnh vô địch để nhân dân Việt Nam có thể chiến thắng kẻ thù, để giành độc lập thống nhất cho tổ quốc là sự đoàn kết.

Hồ Chí Minh kêu gọi đoàn kết từ trong Đảng cộng sản đến đoàn kết ngoài xã hội, đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Hồ Chí Minh luôn tổ chức ra các mặt trận để đoàn kết các lực lượng xã hội trên cơ sở lợi ích chung của dân tộc. Tư tưởng đó đã tạo nên sự chung sức chung lòng, kề vai sát cánh của toàn thể nhân dân Việt Nam trong suốt quá trình cách mạng đồng thời còn tạo nên sự gắn bó với các nước láng riềng, với nhân dân tiến bộ trên thế giới làm nên sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

c. Xây dựng một Đảng cách mạng chân chính.

Hồ Chí Minh cho rằng muốn cách mạng thành công thì sức cách mạng phải tập trung. Muốn sức mạnh tập trung thì phải có Đảng cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nên đó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân nhưng đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc. Vì vậy, Đảng phải có lý luận tiên tiến làm kim chỉ nam. Các đảng viên của Đảng phải có tinh thần tiên phong, gương mẫu. Đảng phải thường xuyên được củng cố và phải dựa vào dân để xây dựng Đảng. Nhờ có tư tưởng chỉ đạo này mà Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự nghiệp bảo vệ nền độc lập và thống nhất của tổ quốc cũng như sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn lịch sử mới.

d. Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hành dân chủ rộng rãi.

Tư tưởng về Nhà nước của dân, do dân, vì dân có thể xem là một tư tưởng chính trị nổi bật của Hồ Chí Minh. Tư tưởng này được trình bày nhất quán trong toàn bộ lý luận về nhà nước. Có thể khái quát những nội dung chính của tư tưởng này như sau:

Một là, về nguyên tắc tất cả quyền lực trong nước Việt Nam đều thuộc về nhân dân. Nhân dân là người lựa chọn những người xứng đáng vào cơ quan nhà nước, kiểm soát sự hoạt động của các cơ quan nhà nước và viên chức nhà nước đồng thời có quyền bãi miễn những người không xứng đáng.

— Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều là đầy tớ của nhân dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Việc gì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh.

— Bộ máy nhà nước phải đảm bảo được tính hiện đại, phải có đủ các cơ quan luật pháp, hành pháp, tư pháp, dân chủ và có hiệu lực.

— Nhà nước của dân, do dân, vì dân phải mang bản chất giai cấp công nhân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

— Đội ngũ cán bộ nhà nước phải có hai điều kiện cơ bản: có đức và có tài; phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, xa rời nhân dân.

e. Tư tưởng lấy dân làm gốc.

Triết lý lấy dân làm gốc là một triết lý chính trị truyền thống của phương Đông, đặc biệt là của Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng triết lý lấy dân làm gốc trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh được mở rộng và được cụ thể hoá ở các nội dung sau:

– Trong bầu trời không có gì quí bằng nhân dân.
– Nhà nước và cán bộ phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
– Phải dựa vào dân để giải quyết mọi công việc.
– Phải gần dân, tin dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân và rèn luyện đạo đức.
– Phải biết phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân.

Tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh không phải là sự khái quát các tư tưởng chính trị đã có trong lịch sử ở phương Đông, phương Tây mà là sự tiếp thu có phê phán các tư tưởng này và bổ sung những nội dung mới tạo nên một sắc thái riêng biệt.

IX. Triết học chính trị Việt Nam từ 1930 đến nay.

1. Hoàn cảnh lịch sử.

Từ năm 1930 đến đầu thế kỷ XXI, lịch sử Việt Nam đã có những biến cố lịch sử hết sức quan trọng.

— Ngày 03/02/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ đó cho đến ngày nay.

— Ngày 19/8/1945 cách mạng Tháng Tám thành công, giành lại quyền độc lập sau gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp và xóa bỏ chế độ phong kiến đã tồn tại gần 1.000 năm trong lịch sử Việt Nam (kể từ sau thời kỳ Bắc thuộc).

— Từ năm 1945 đến 1954 dưới sự lãnh đạo sáng suốt và kiên cường của Đảng cộng sản nhân dân Việt Nam đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu cũ lần thứ hai của Pháp.

Gần nửa triệu quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp đã bị tiêu diệt. 2.688 tỷ phrăng và 2.600 triệu đô la Mỹ viện trợ bị tiêu phí vì mục đích phi nghĩa. 20 lần chính phủ Pháp bị đổ, 7 lần toàn quyền Pháp bị triệu hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận. Cuối cùng thực dân Pháp đã buộc phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

— Từ năm 1954 đến năm 1975, nhân dân Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:

+ Xây dựng cơ sở vật chất và tinh thần cho chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
+ Đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Trong thời gian này, Việt Nam đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới có qui mô lớn nhất, kéo dài nhất, ác liệt và dã man nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai của Hoa Kỳ.

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Lao động thương binh và xã hội Việt Nam (tháng 10/1993), con số hy sinh và thiệt hại của Việt Nam như sau:

1,1 triệu người liệt sĩ, 600.000 người thương binh, 300.000 người mất tích, gần 2.000.000 người dân thường bị giết hại, 2.000.000 người dân thường bị tàn tật, 2.000.000 người bị nhiễm chất độc hoá học (trong đó có khoảng 50.000 trẻ em bị dị dạng).

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam trong 117 năm và giành lại hoàn toàn quyền độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho đất nước. Đó là một thiên anh hùng ca vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam, một trong những sự kiện nổi bật của thế kỷ XX.

Như vậy, riêng trong thế kỷ XX, Việt Nam phải giành tới 3/4 thời gian để tiến hành cuộc chiến đấu gian khổ nhất, hy sinh lớn nhất, giành lại nền độc lập, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

— Từ năm 1975 đến nay là giai đoạn Việt Nam bước vào con đường phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa .

Thời kỳ 1975 – 1985 đất nước vừa trải qua chiến tranh. Hậu quả của chiến tranh hết sức nặng nề lại bị bao vây cấm vận về kinh tế cùng với cơ chế quản lý cũ đã gây nên những khó khăn trầm trọng về kinh tế – xã hội.

— Từ năm 1986 đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện, đã tạo ra những chuyển biến trên tất cả các lĩnh vực:

– Đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng.
– Xuất khẩu lương thực đứng hàng thứ 3 thế giới.
– Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh.
– Chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững.
– Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng.
– Văn hoá, xã hội có những bước phát triển mới.

Việt Nam ngày càng có vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế.

2. Những nội dung cơ bản về triết học chính trị.

Triết học chính trị Việt Nam từ năm 1930 đến nay vẫn chưa trở thành một hệ thống lý luận độc lập. Tuy vậy, các quan điểm triết học về chính trị ngày càng rõ ràng và được trình bày trong các lý luận về triết học, lý luận về nhà nước, lý luận về Đảng cộng sản và sau đó được trình bày trong chính trị học.

Nội dung triết học chính trị Việt Nam từ năm 1930 đến nay rất phong phú song những vấn đề cơ bản nổi bật nhất là:

a. Tư tưởng giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia thống nhất.

Đây là tư tưởng chính trị cơ bản xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam. Trong thời đại Hồ Chí Minh tư tưởng này phát triển đến đỉnh cao và trở thành triết lý cơ bản trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

Năm 1930 cuộc cách mạng của Việt Nam được xác định là cuộc cách mạng chống đế quốc và phong kiến tay sai. Nhưng nhiệm vụ giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vào những năm trước cách mạng Tháng 8 là: quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong của quốc gia dân tộc. Quyền lợi của dân tộc cao hơn hết thảy. Cuộc cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc Nhật – Pháp và bọn phản quốc. Lực lượng cơ bản của cuộc cách mạng là công, nông do giai cấp công nhân lãnh đạo cùng tất cả những người Việt Nam yêu nước thuộc các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau.

Sau khi cách mạng Tháng 8 thành công, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai, tư tưởng chỉ đạo của cách mạng Việt Nam là toàn dân đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trường ký và toàn diện, quyết giành cho được độc lập và thống nhất thật sự, quyết bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng Tháng 8. Chính tư tưởng chiến lược này là tư tưởng chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sau khi thực dân Pháp thất bại, Mỹ vào thay Pháp ở miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam thì tư tưởng chính trị chủ đạo là: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiến quyết, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.

Tư tưởng cơ bản đó đã phát huy được nguồn lực bên trong của dân tộc Việt Nam, kết hợp với sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, sự ủng hộ của các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới kể cả nhân dân Pháp và Mỹ tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng các thế lực đế quốc lớn trên thế giới trong thế kỷ XX.

b. Tư tưởng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa .

Tư tưởng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một trong những tư tưởng chính trị trọng yếu của Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Xuất phát từ lý luận về hình thái kinh tế – xã hội của triết học chính trị mácxít, Việt Nam khẳng định:

— Sự phát triển của lịch sử Việt Nam không đi đúng tuần tự qua các giai đoạn phát triển như nhiều quốc gia trên thế giới và có sự phát triển đặc thù.

— Trong điều kiện những biến đổi của thế giới ở thế kỷ XX và dựa vào thực tế của đất nước Việt Nam, Việt Nam có thể phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội mà không cần phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa sau khi đã giành được độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

— Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực sự đem lại hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, mới làm cho đất nước Việt Nam thực sự vững mạnh.

— chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được hiểu là:

"Một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới".

Để thực hiện mục tiêu đó, cách mạng Việt Nam phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiểu khâu trung gian. Việt Nam coi trọng việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa , đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa kết hợp nội lực với ngoại lực, truyền thống với hiện đại để tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước. Cùng với quá trình đó, Việt Nam cũng tiến hành xây dựng một nền văn hoá dân tộc tiên tiến, chế độ chính trị tiên tiến và các quan hệ xã hội tốt đẹp khác. Đây là tư tưởng chính trị hết sức cơ bản của Việt Nam trong điều kiện mới.

c. Tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Lý luận về Nhà nước chiếm một vị trí quan trọng trong tư tưởng chính trị Việt Nam đặc biệt là trong lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1941, Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu ra quan điểm là không nên nói công nông liên hợp và lập chính quyền Xô Viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa. Chính phủ này phải do quốc dân đại hội cử ra, phải đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân gồm tất cả các đảng phái cách mạng, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu ra.

Sau cách mạng Tháng 8, tư tưởng trên đã được cụ thể hoá trong hiến pháp. Điều 1 của hiến pháp năm 1946 qui định: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bình trong nước của nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

Từ năm 1954, do miền Bắc Việt Nam được giải phóng và phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa nên Nhà nước Việt Nam chuyển sang làm nhiệm vụ của Nhà nước vô sản.

Do trong thực tế, hoạt động của Nhà nước có nhiều hạn chế nên từ 1992 đã bắt đầu hình thành lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây là quan điểm chính trị mới nhất về Nhà nước, trong triết lý chính trị Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau đây:

— Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước.

— Tôn trọng, bảo vệ quyền công dân và quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người.

— Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp và pháp luật, đảm bảo tính tối cao của pháp luật.

— Nhà nước hoạt động theo nguyên tắc thống nhất và phân công giữa các cơ quan luật pháp, hành pháp và tư pháp.

— Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và sự giám sát của nhân dân.

Đó là những quan điểm chỉ đạo để xây dựng và nâng cao vai trò hoạt động của Nhà nước Việt Nam hiện nay.

d. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu, là nhân tố quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

— Đại đoàn kết dân tộc là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam.

— Đại đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng của liên minh công nhân, nông dân, trí thức là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam.

— Đại đoàn kết dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn kết đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và đồng bào định cư ở nước ngoài.

-— Đại đoàn kết đòi hỏi phải xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giữ gìn ổn định chính trị, tạo nên sự đồng thuận xã hội vì tương lai của dân tộc.

Đó là tư tưởng đoàn kết thực sự rộng rãi xuất phát từ lợi ích của toàn dân tộc, từ yêu cầu đẩy mạnh sự phát triển của đất nước.

Tư tưởng đoàn kết của Việt Nam còn mở rộng đến sự đoàn kết các quốc gia, các tổ chức tiến bộ trên thế giới trên cơ sở bình đẳng, hợp tác và cùng có lợi.

Những tư tưởng chính trị trên đây là đỉnh cao của triết học chính trị Việt Nam. Đó là kết quả của sự đúc kết các tư tưởng chính trị đã hình thành trên 2.000 năm trong lịch sử. Đó cũng là sự đúc kết những tư tưởng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Những tư tưởng này sẽ được tiếp tục phát triển trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa .

X. Kết luận.

Tư tưởng chính trị hay triết học chính trị Việt Nam có nhiều nội dung phong phú và có những biểu hiện khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Song nội dung xuyên suốt của tư tưởng này có những điểm nổi bật sau đây:

1. Độc lập dân tộc, chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Bất cứ thế lực nào xâm phạm đến quyền đó cũng nhất định bị nhân dân Việt Nam đánh bại. Đó là tư tưởng nhất quán trước sau như một và ngày càng được khẳng định trong các lý luận chính trị, trong triết lý sống của nhân dân.

2. Sức mạnh vĩ đại của Việt Nam là sức mạnh đại đoàn kết của toàn thể dân tộc. Nhân dân Việt Nam là bức trường thành kiên cố nhất để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và nòi giống Việt Nam. Sức mạnh đoàn kết của toàn thể nhân dân Việt Nam là sức mạnh cơ bản để giành thắng lợi trong mọi cuộc chiến tranh chống xâm lược và cũng là sức mạnh cơ bản để xây dựng và phát triển đất nước, xây dựng một quốc gia vững mạnh.

3. Tư tưởng chính trị nổi bật của Việt Nam còn là tư tưởng đại nghĩa. Những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là những cuộc chiến tranh vì đại nghĩa. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh này là đánh đuổi giặc ngoại xâm giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Vì vậy, khi mục tiêu ấy đã được thực hiện, nhân dân Việt Nam sẵn sàng gác lại quá khứ, hợp tác để phát triển trong mối quan hệ bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

4. Để thực hiện nhiệm vụ giành và giữ vững nền độc lập của đất nước Việt Nam luôn chủ trương, xây dựng một Nhà nước chính trị vững mạnh của dân, đặt lợi ích của dân tộc và nhân dân lên trên hết và có các hình thức tổ chức phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước.

5. Mục tiêu chính trị cơ bản của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tức là một đất nước "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên thế giới.

Nhờ có những triết lý chính trị đúng đắn mà trải qua tất cả những thử thách hết sức khắc nghiệt của lịch sử Việt Nam vẫn đứng vững và sẽ tiếp tục phát triển trong điều kiện lịch sử mới./.


 

Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Gladfelter Hall, Room 1016
Temple University Philadelphia, PA 19122 Contact: vietcent@temple.edu