|
CONTENTS
|
 |
Ancient Western Philosophy
— Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University |
 |
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University |
 |
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
— History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University |
 |
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận |
 |
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University |
 |
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia
phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
— Political Philosophy
in the Period of Building
an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University |
 |
Political Economy: A Brief Overview
— Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa |
 |
The Philosophy of Language and Thought
— Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University |
 |
Aesthetics
— Mỹ học |
 |
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
The Mind-Body Problem
— Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University |
 |
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education |
 |
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences |
 |
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Khảo
cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities |
|
|
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society
Temple University
|
|
| |
Khái lược về kinh tế chính trị học
Peter Manicas
Đại học Hawai'I tại Mānoa
Translated by Associate Prof. Dr. Nguyễn Vũ Hảo, Fulbright Scholar at Temple, 2010-2011
|
- Lời giới thiệu
Không có sự thống nhất liên quan đến việc sử dụng khái niệm “kinh tế chính trị học”. Thứ
nhất, có một sự khác biệt giữa “kinh tế chính trị học” và “kinh tế học”. Đối với nhiều
người, ít nhất, “kinh tế chính trị học” chỉ là một cái tên cũ cho cái mà kể từ Alfred
Marshal (1890) được gọi là “kinh tế học”. Đối với những người khác, “kinh tế chính trị
học” khác với “kinh tế học” ở chỗ nó quan tâm đến chính trị. Đây là lập trường về cái mà
đôi khi được gọi là “kinh tế chính trị học mới”, song cho dù tên gọi đó, nó vẫn duy trì
quan điểm tân cổ điển về “kinh tế học”.[1]
Tuy nhiên, đối với những người khác, “kinh tế chính trị học” thể hiện một hình mẫu hoàn
toàn khác. Vấn đề có thể được đặt ra một cách đơn giản: Việc tìm hiểu các quá trình kinh
tế có cần đến lịch sử cụ thể, chính trị và xã hội học hay không hoặc người ta có thể phát
triển các lý thuyết có giá trị giải thích liên quan đến các kết quả chẳng hạn như các giá cả
bằng cách đưa ra các mô hình trừu tượng, các mô hình ít hoặc không chú ý đến yếu tố
chính trị và xã hội hay không? Đi theo đường hướng nổi trội của kinh tế chính trị học “tân
cổ điển”, lý thuyết “kinh tế” chủ đạo cho rằng thực ra, chính sự trừu tượng hóa như vậy
lại làm cho kinh tế học trở thành một khoa học. Một quan điểm khác lại bác bỏ điều này,
và cho rằng sự luận giải phải nhận thấy điều này, rằng cần phải chú ý đến yếu tố chính trị
và xã hội học của các nền kinh tế, bởi vì các nền kinh tế được đặt vào trong lịch sử của
thể chế và các xã hội hiện thực trên thế giới. Tất nhiên, truyền thống mác xít là đường
hướng đáng chú ý nhất ở đây, nhưng người ta cũng có thể kể đến công trình lấy cảm
hứng từ Max Weber bao gồm cái mà hiện nay được gọi là “xã hội học lịch sử” hoặc “xã
hội học kinh tế”, và công trình được thực hiện bởi những người theo thể chế luận, những
người đưa ra những phê phán gay gắt đối với kinh tế chính trị học tân cổ điển.[2] Cuối
cùng, chúng ta có thể kể đến công trình của trường phái được gọi là trường phái Áo theo
quan điểm của Hayek và Mises, công trình gần đây của những người theo thuyết Keynes,
các nhà nữ quyền, “các nhà kinh tế chính trị học xanh”, và các cách tiếp cận khác được
gọi là “không chính thống”.[3] Để tiện theo dõi, chúng tôi chia bài viết của mình thành
hai phần chính, xem xét các đặc trưng cơ bản của các nhìn nhận chủ đạo về đề tài, sau đó
quay trở lại cái mà các nhà mác xít và những người khác vẫn nhận diện là “kinh tế chính
trị học”.
- Kinh tế chính trị học “cổ điển” và “tân cổ điển”
Bất chấp một loạt cuộc “cách mạng” giả định làm thay đổi mạnh mẽ đặc điểm của phân
tích kinh tế, kinh tế học chủ đạo là một môn học mà trong hơn hai thể kỷ đã giữ được cái
mà Schumpeter gọi là một “cách nhìn” của quá trình kinh tế. Cách nhìn này được diễn tả
một cách thú vị bởi lối nói ẩn dụ có tác động mạnh mẽ của Adam Smith về “bàn tay vô
hình”.
Thừa nhận cái mà đôi lúc được gọi là “chủ nghĩa cá nhân phương pháp luận”, các kết quả
của thị trường có thể được lý giải như là sản phẩm chung của các hoạt động của các cá
nhân có mối quan tâm riêng của mình và ít nhiều bị phân tán, tương tác lẫn nhau trong xã
hội thông qua sự trung gian của thị trường. Đặc điểm khác thường của sự tương tác này
là ở chỗ trong một nền kinh tế có sự cạnh tranh lành mạnh, toàn bộ hành vi này đạt đến
trật tự. Quả thực, nó đạt được một sự phân chia hiệu quả đối với các nguồn lực và có lẽ,
đạt được sự phân bổ công bằng đối với các nguồn lực đó.
“Lý thuyết kinh điển” từ Smith đến J.S. Mill đã chỉ ra con đường đến với lý thuyết tân–cổ điển, trong khi tạo ra cái thường được gọi là “cách mạng bên lề”. Hoàn toàn độc lập
với nhau, W. S. Jevons, Carl Menger và Leon Walras đã đến với những ý tưởng cơ bản,
tâm điểm của cái mà ngày nay được gọi là “kinh tế vi mô”. Trong khi ý tưởng này được
ám chỉ trong lối nói ẩn dụ về bàn tay vô hình, Walras, đồng thời với Pareto và sau đó là
Pigou, đã giới thiệu về phần chủ yếu của lý thuyết, ý tưởng về sự cân bằng chung. Đây là
một điều kiện mà trong đó giá cả và số lượng của tất cả các sản phẩm và các yếu tố,
những thứ có thể được mua bán, được cạnh tranh một cách lành mạnh, là hoàn toàn được
xác định. Đây cũng là một ý tưởng có ảnh hưởng mạnh mẽ. Cái mà dường như là là một
quá trình rất hỗn độn, hay thậm tệ hơn, một tập hợp rất hỗn độn của các quá trình, hóa ra
lại là một quá trình thị trường hoàn toàn có thể được hiểu, được phát triển và được khái
quát một cách nghiêm túc về mặt lý luận.
Những nét cơ bản của lý thuyết này có thể được phác họa. Với tính cách là một “doanh
nhân”, một người lao động hay một người tiêu dùng, mỗi cá nhân tìm cách tối đa hóa các
lợi ích (“tính vị lợi”) của mình. Tính vị lợi này đòi hỏi họ phải đưa ra các quyết định hợp
lý cho sự lựa chọn của mình. Từ giác độ người tiêu dùng, tính vị lợi này đòi hỏi rằng,
chúng ta có thể đặt hàng cho những ưu tiên của mình trong số tất cả các khả năng lựa
chọn, rằng chúng ta có thể dự tính được “tính vị lợi bên lề”—số lượng gia tăng của sự
“hài lòng” mà chúng ta có thể có được cho mỗi đơn vị bổ sung được sử dụng. Thành thử,
nếu tôi phải tối đa hóa lợi ích của mình, tôi sẽ quyết định sự cân bằng tương đối giữa số
lượng của hai sản phẩm bia và sữa. Chẳng hạn, tôi sẽ lựa chọn mất bao nhiêu bia để nhận
được mỗi lượng sữa bổ sung. Để kết hợp giữa số lượng khác nhau của sữa và bia tạo ra
mức độ như nhau của lợi ích, “chủ thể khôn ngoan” cần phải “trung lập”. Hơn nữa, “lợi
ích bên lề” bị giảm bớt trong ý nghĩa rằng có một sự suy giảm về mức độ hài lòng, mỗi khi
tăng thêm số lượng hàng hóa, trong khi tất cả các thứ khác được duy trì ở mức độ bất
biến. Cuối cùng, có thể giả định rằng, những khả năng lựa chọn được thực hiện theo từng
cặp, rằng chúng ta có hiểu biết đầy đủ về môi trường kinh tế và rằng chúng ta hành động
một cách tự do trong việc lựa chọn của mình. Bằng cách tập hợp lại bảng danh mục nhu
cầu của cá nhân, chúng ta tạo ra được một đường cong về nhu cầu cho mọi mặt hàng.
Đường cong này chỉ ra, việc mua sắm sẽ được thực hiện ở mức nào với các giá khác nhau
ở các mức độ cung ứng khác nhau. Tất nhiên, đây là sự giả định rất rõ ràng, nhưng không
đáng tin cậy.
Người ta cũng có thể vẽ một “đường cong về nguồn cung”, một đường sử dụng cùng các
nguyên tắc như nhau: người sản xuất thì “khôn ngoan”, mỗi chi phí phát sinh bổ sung
thêm một tổng số phát sinh, đang được giảm đi của các sản phẩm được tạo ra, bao gồm
các chi phí của các đơn vị lao động phát sinh, gia tăng thêm. Tổng số này, như nói ở trên,
lại tùy thuộc vào những bảng thống kê bên lề được giảm bớt, trong khi giữ các hệ số khác
không đổi.
Khi đó, “đường cong về nguồn cung” sẽ cho biết: những người sản xuất đang mong muốn
đáp ứng bao nhiêu sản phẩm với các giá cả khác nhau. Giả sử có một sự cạnh tranh hoàn
hảo. [4] Sự giao nhau của các đường cong về cầu và cung tạo ra giá cả thị trường đối với
mặt hàng hay thông số nhất định. Nếu tất cả các điều kiện về cạnh tranh giá cả được thỏa
mãn, như giả định, thì sự ổn định sẽ được tạo ra. Thị trường được “trong sạch”: Mọi thứ
“được sản xuất” sẽ “được tiêu thụ” và giá cả cũng như số lượng nào là hiệu quả nhất từ
quan điểm của cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất. Như vậy, cũng có một sự ổn định
chung, khi tất cả các thị trường, bao gồm thị trường tài chính và thị trường lao động,
được độc lập. Chẳng hạn, khi xác định giá cả lao động cho sản xuất, những người lao
động tương lai có thông tin về tất cả các công việc hiện có thể có và về thực chất của các
công việc này, còn những người chủ thì biết rằng họ cần những người lao động nào, họ
đánh giá các kỹ năng và thái độ của những người lao động. Và bởi vì thị trường lao động
là cạnh tranh, nên họ chỉ thuê những người lao động cần thiết với mức lương tương
đương với sản phẩm bên lề sao cho sản xuất có lãi. Sẽ không có nạn thất nghiệp, khi tiền
lương trong nền kinh tế sẽ được điều chỉnh cho đến khi người lao động cuối cùng còn lại
được thuê.
Tuy nhiên, theo Keynes (1937), lý thuyết chủ đạo chấp nhận rằng, một nền kinh tế có thể
đạt được trạng thái ổn định với một số lượng thất nghiệp nào đó. Đối với những người
theo thuyết Keynes, đây là hậu quả của sự tiết kiệm và đầu tư chưa đầy đủ. Điều này có
thể được xác định bằng chính sách tài chính và tiền tệ.
Chính sách này là hậu quả trực tiếp của thực tế rằng nếu một cái gì đó gây trở ngại cho
hoạt động của “thị trường tự do” thì nó sẽ bị bác bỏ. Chính phủ nên có một vai trò rất hạn
chế, trước hết trong việc không chế các hợp đồng và đảm bảo cơ sở hạ tầng không có
được bởi các thị trường tư nhân, chẳng hạn như đường xá, quốc phòng. Vì vậy, chính
sách đòi hỏi “việc tư nhân hóa”— đặt toàn bộ nền kinh tế vào trong tay doanh nghiệp tư
nhân, kiểm soát công đoàn, và “mở rộng tự do”—loại bỏ “sự can thiệp” của chính phủ đối
với tất cả các thị trường. Thành thử, sự tấn công vào các cơ quan và chính sách điều tiết
đã hướng đến việc bảo vệ môi trường. Đây chính là cái mà hiện nay được gọi là “chủ
nghĩa tự do mới”. Vì chính phủ đưa ra các quy định cho mọi sự trao đổi, nên để chắc
chắn, chúng ta không thể không đề cập đến chính phủ: Trong khi người ta rất ít khi nhắc
đến chính phủ, “thị trường tự do” về cơ bản là một thị trường trong đó các quy định
mang đến lợi thế cho các nhà tư bản và gây những bất lợi cho những người lao động, cho
môi trường và cho nhiều yếu tố khác nữa.
Nền tảng lý luận cho chủ nghĩa tự do mới đã khiến nó trở thành một hệ tư tưởng có ảnh
hưởng mạnh mẽ. Tư tưởng cho rằng, các kết quả đưa ra đòi hỏi tập trung vào các cá nhân,
là hợp lý, thậm chí khi các vấn đề quan trọng nảy sinh, khi người ta chỉ trích những gì bị
quy cho các nhà hoạt động, những gì bị để ra ngoài, chẳng hạn câu hỏi liệu các vấn đề đó
có hợp lý hay không về mặt lý luận, liệu họ có những thông tin cần thiết và khả năng tiếp
thu hay không, liệu các thị trường đã từng có tính cạnh tranh theo đúng nghĩa của nó hay
chưa, liệu những khác biệt lớn về quy mô giữa một cửa hàng “cha mẹ” nhỏ bé và một tập
đoàn khổng lồ - cả hai loại này đều được gọi là các hãng mà không có sự phân biệt—liệu
những sự lựa chọn có được thực hiện một cách “tự do” và theo từng cặp hay không [5],
liệu lý thuyết có thể bỏ qua các quá trình, những thứ có thể đưa đến chính việc thiết lập
các thị trường được phát triển về mặt lý luận hay không. Rõ ràng là ở đây người ta chỉ
trích không chỉ có các hình thái đặc thù của cở sở hạ tầng do luật pháp quy định, mà còn
hàng loạt sự khác biệt có liên quan trực tiếp về mặt xã hội học, bao gồm cả vị thế quyền
lực trong xã hội. Tác động của những vấn đề này là ở chỗ đưa ra nghi vấn đối với toàn bộ
việc tổ chức kinh doanh của nền kinh tế chủ đạo [6].
Chủ nghĩa tự do mới có một lợi thế khác về mặt ý thức hệ: Với sự phát triển của kinh tế
toán học (Samuelson, 1947), kinh tế học hiện nay có được mọi cái nhìn của cái mà người
ta coi là vật lý học. Do vậy, nó có thẩm quyền gần như không bị nghi ngờ [7].
Có thể dễ dàng chỉ ra (chúng ta đã đề cập đến luận cứ ở trên) rằng, có những vấn đề có
tính quyết định. Thứ nhất là vấn đề: liệu lý thuyết chủ đạo, thực ra, có phải là một cái gì
đó giống như các lý thuyết vật lý học có khả năng đứng vững trong một thời gian dài hay
không? Với việc đưa ra cơ chế nhân quả, những lý thuyết này lại không đưa ra các kết
luận từ các tiền đề. Thứ hai là vấn đề rõ ràng hơn nhiều, khi người ta đang tìm các cách lý
giải: thực tế rằng đa phần các giả định của mô hình lại được thừa nhận là sai, không thể
được bàn luận qua loa. Chẳng hạn như mô hình nguyên tử của Bohr giúp chúng ta hiểu
các kết luận về hóa học, chỉ vì chúng ta có cơ sở chắc chắn để tin rằng thực ra, các
nguyên tử trong thế giới hiện thực được thể hiện bởi mô hình này và chúng có tính chất
nhân quả được lý thuyết này gán cho.
Giải pháp kinh điển cho vấn đề về tính xác thực của mô hình kinh tế này đã được Milton
Friedman đưa ra vào năm 1953. Giữ lập trường rõ ràng trong cuộc tranh luận gay gắt về
triết học khoa học, ông chỉ rõ: “. . . Lý thuyết phải được đánh giá bởi năng lực dự báo đối
với loại hiện tượng được người ta định “giải thích” (1968: 512). Ông nói: . . . Câu hỏi xác
đáng liên quan đến “những thừa nhận” đối với một lý thuyết không phải là ở chỗ liệu
chúng có “hiện thực” một cách sinh động hay không, bởi vì nó chúng không hề như vậy,
mà là ở chỗ liệu chúng có phải là các cách tiếp cận thích hợp đến mục tiêu gần hay không.
Và vấn đề này có thể được trả lời chỉ bằng cách xem liệu lý thuyết có hiệu lực hay không,
bằng cách nào, liệu nó có mang lại những dự báo xác đáng một cách đầy đủ hay không
(517).
Năng lực dự báo tạo ra sự hữu ích cho một lý thuyết, nhưng một lý thuyết mà những thừa
nhận của nó không phải là hiện thực sinh động, liệu có thể giải thích được hay không? Ở
đây, Friedman đang thừa nhận một cách lý giải, đôi lúc được gọi là cách lý giải của thuyết
công cụ cho rằng việc giải thích và dự báo là đối xứng và năng lực dự báo cũng mang lại
năng lực giải thích và ngược lại. Ý tưởng này được các nhà kinh tế coi là hiển nhiên.
Thực ra, quan điểm cho rằng, người ta cần đến một mô hình toán học, nếu người ta làm
khoa học thực sự, đang bị chỉ trích. Tuy nhiên, ý tưởng lúc đó vẫn cho rằng, dự báo và
giải thích không đối xứng nhau, rằng chúng ta thường xuyên có thể giải thích kết quả nào
đó, khi nó không thể được dự báo, và rằng để giải thích, thì mô hình ít nhất sẽ phải là sự
gần đúng của hiện thực. Chẳng hạn, một mối quan hệ tốt đẹp mang đến cho người ta
những năng lực dự báo tốt đẹp, nhưng hơn nữa, nó cần thiết nếu chúng ta có được một
sự giải thích. Tất nhiên, lý thuyết chủ đạo cũng không đạt được tiêu chuẩn dự báo của
Friedman [8]. Thực ra, Wassily Leontief, nguyên chủ tịch của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ
đã đưa ra vấn đề về kinh tế học toán học (và toán kinh tế):
Hết trang này sang trang khác trong các tạp chí chuyên ngành kinh tế đều phủ kín bởi các
công thức toán học, đưa độc giả từ các tập hợp của những giả định ít nhiều hợp lý, nhưng
hoàn toàn tùy ý, đến các kết luận có tính lý luận được tuyên bố một cách chính xác,
nhưng không phù hợp . . . Năm này qua năm khác, các nhà lý luận kinh tế tiếp tục đưa ra
các nền tảng cho mô hình toán học và nghiên cứu một cách rất chi tiết các đặc tính hình
thức của chúng; các nhà toán kinh tế làm cho các hàm đại số của tất cả các hình dạng có
thể thích hợp về cơ bản với các tập hợp giống nhau của các dữ kiện mà không thể đề xuất
theo cách có thể cảm nhận được một quan niệm có tính hệ thống về các cấu trúc và các
hoạt động của hệ thống kinh tế hiện thực (Leontief 1982: 104).
- Kinh tế chính trị học mácxít, những biến thể của nó và những cách lựa chọn phi
mácxít
Hẳn là Mác đã sử dụng truyền thống kinh điển của kinh tế chính trị học, nhưng Mác đã
chắc chắn ngay từ đầu rằng, ông đã không quan tâm đến việc giải thích về giá cả, và rằng
thực ra, hầu hết tất cả những gì thú vị đối với ông, đã không được lý giải. Nhiệm vụ của
ông là hiểu chủ nghĩa tư bản như một hình thái lịch sử đặc biệt của kinh tế chính trị:
Vì vậy, giờ đây, chúng ta cần phải nắm được mối quan hệ hiện thực giữa toàn bộ hệ
thống của sự tha hóa—sử hữu tư nhân, tính hám lợi, sự tách rời của lao động, tư bản và
đất đai, trao đổi và cạnh tranh, giá trị và phản giá trị của con người, độc quyền và cạnh
tranh—và hệ thống tiền tệ (“lao động bị tha hóa”, trong: Bender, 1972, 70).
Đó là việc Mác
muốn khám phá những gì mà lý luận “tư sản” hoặc làm cho khó hiểu hoặc coi là hiển
nhiên, để làm rõ những điều kiện của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, bao gồm vai trò của
tiền tệ trong bái vật giáo hàng hóa, trong việc thần bí hóa giai cấp và bóc lột, những “mâu
thuẫn” của chủ nghĩa tư bản, và do vậy, trong các vấn đề được đặt ra cho các chủ thể hoạt
động: các chủ thể hoạt động của nhà nước: các nhà tư bản và những người công nhân. Tư
tưởng chủ đạo là ở chỗ cho rằng những người lao động được trả lương, nhưng trong quá
trình sản xuất, họ đã bổ sung thêm vào giá trị của sản phẩm được sản xuất ra. “Giá trị
thặng dư” này là nguồn gốc của lợi nhuận, động lực thúc đẩy của các nhà tư bản. Trong
tác phẩm Tư bản, Mác đã trừu tượng hóa xã hội tư bản chủ nghĩa mà ông coi là xã hội
phát triển đầy đủ nhất. Nhưng như ông thấy, nếu chủ nghĩa tư bản có những đặc trưng
chung nhất định có tính phê phán, thì các xã hội tư bản chủ nghĩa có thể có sự khác biệt
rất nhiều, nói một cách chính xác, bởi vì chúng có lịch sử thể chế khác nhau. Ở đây, hãy
so sánh chẳng hạn Ấn Độ và Nhật Bản, Guatamala và Thụy Điển. Thực ra, để hiểu vai trò
của lý luận về chủ nghĩa tư bản, chúng ta cần đặt nó vào ngữ cảnh rộng lớn hơn của cái
được gọi là “chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Chủ đề chủ đạo ở đây trong Hệ tư tưởng Đức được viết cùng với Ph. Ăngghen. Họ viết:
Những tiền đề mà từ đó chúng ta bắt đầu, không phải là tùy tiện, không phải là giáo điều,
mà là những tiền đề hiện thực mà từ đó việc trừu tượng hóa chỉ có thể được thực hiện
trong trí tưởng tượng. Đó là những cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và các điều kiện
vật chất mà trong đó họ sống, cả những điều kiện đã có sẵn và những điều kiện được tạo
ra bởi hoạt động của họ. Những tiền đề này có thể được xem xét theo cách hoàn toàn
kinh nghiệm.
Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại dĩ nhiên là sự tồn tại của những con người
cá nhân đang sinh sống. Do vậy, sự kiện đầu tiên được đưa ra là tổ chức vật chất của các
cá nhân và các quan hệ tất yếu của họ đối với phần còn lại của giới tự nhiên (trong:
Bender, 164).
Tất nhiên, “sự kiện đầu tiên” là cái được gọi là “phương thức sản xuất”. Tuy vậy, có hai
vấn đề có thể được đặt ra. Thứ nhất, Mác đã khẳng định rằng, đó chỉ là sự kiện đầu tiên,
chứ không phải là sự kiện duy nhất; và như vậy, thứ hai, cái gì có thể bị bỏ qua khi xác
định “sự kiện đầu tiên”? Có hai quan điểm về vấn đề này. Theo quan điểm chính thống
(quan điểm của Quốc tế 2), phương thức sản xuất là “cơ sở hạ tầng”, còn tất cả những cái
khác là “kiến trúc thượng tầng”. Hơn nữa, về mặt hiệu quả, phương thức sản xuất là sự
kiện duy nhất, khi nó “giải thích” cho kiến trúc thượng tầng. Đối với chủ nghĩa duy vật
lịch sử, giờ đây chúng ta có “quyết định luận kinh tế” mà theo đó kinh tế chính trị học giải
thích tất cả. Theo một quan điểm khác, việc xác định phương thức sản xuất đòi hỏi phải lý
giải các quan hệ sản xuất xã hội. Nhưng về phần mình, các quan hệ sản xuất xã hội này lại
đòi hỏi phải xem xét các thiết chế hợp pháp và thực ra đòi hỏi các hình thái ý thức. Điều
này có nghĩa rằng, trong thực tế, “kinh tế chính trị học” và “văn hóa” không tách rời
nhau. Mác và Ăngghen viết: “Cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ xuất hiện từ nhu cầu và sự
cần thiết của các mối quan hệ với những người khác . . . Động vật không có “các mối quan
hệ” với bất cứ cái gì . . . Mối quan hệ của nó đối với những cái khác không tồn tại với tính
cách là một mối quan hệ. Thành thử, ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm có tính xã
hội và sẽ là như vậy, chừng nào những con người còn tồn tại.”
Ý tưởng cho rằng ý thức có tính xã hội, có những hậu quả lớn. Nó hủy hoại những luận
điểm tâm lý học của “chủ nghĩa phổ quát” liên quan đến các diễn giả của lý thuyết chủ
đạo và “lý thuyết lựa chọn hợp lý” hiện đang thịnh hành. Nó cũng đòi hỏi chúng ta phải
có hiểu biết về lòng tin của các thành viên trong một xã hội và khi đó nó đưa ra câu hỏi:
liệu việc tái hiện lại thực tiễn trong xã hội của họ dĩ nhiên bao gồm cả phương thức sản
xuất, có liên quan đến lòng tin sai lầm—chẳng hạn bao gồm một tập hợp các lòng tin tạo
ra hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do mới hay không? Câu hỏi này phải cụ thể và mang tính
kinh nghiệm. Mác và Ăng ghen viết:
Vì vậy, thực tế là những cá nhân nhất định, những người đang hoạt động hiệu quả theo
cách nhất định, bước vào các quan hệ chính trị và xã hội nhất định này. Việc quan sát
kinh nghiệm cần phải làm rõ sự liên quan của cơ cấu chính trị và xã hội đối với sản xuất ở
phương diện kinh nghiệm trong mỗi ví dụ riêng biệt mà không có bất cứ sự thần bí hóa
hay tư biện nào (trong Bender, 170).
Vậy là Mác không chỉ bác bỏ những nỗ lực của kinh tế học chính trị “tư sản” cho cách
tiếp cận xem xét những phỏng đoán về quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà ông
cũng còn nhấn mạnh rằng, việc nắm được bản chất của kinh tế chính trị là điều kiện cần
(chứ không phải là điều kiện đủ!); khi người ta phải hiểu được một cái gì đó như: nạn thất
nghiệp, tình trạng nhập cư, chủ nghĩa đế quốc, áp bức giai cấp, sự hủy hoại giới tự nhiên—người ta có thể dễ dàng tiếp tục.[9] Vậy là, theo Mác, đó là đặc trưng cơ bản cho phép và
đưa đến mọi kết quả, trong khi sản xuất theo một phương thức nào đó không quyết định kết quả. Chẳng hạn, luôn luôn có những sự lựa chọn chính trị có thể đối với các nhà hoạt
động quốc gia, khi chúng sẽ biến đổi với tính cách là một chức năng mang đặc thù của tổ
chức nhà nước, chúng không còn thích hợp trái với với hiểu biết của họ về các nhu cầu
của tư bản. Vì thế, chẳng hạn, ở một thời gian và địa điểm nào đó, việc đưa ra luật lao
động có thể là “giải pháp”, còn ở một thời gian và địa điểm khác, thì chủ nghĩa đế quốc
thể là “giải pháp”.
Ở đây, người ta có thể kể đến công trình của Weber. Trong bài xã luận của tạp chí mà ông
sáng lập, ông đã đưa ra vấn đề luận giải về kinh tế xã hội. Ông bắt đầu bằng cái mà rất
giống như “sự kiện đầu tiên” ở Mác và tiếp tục phân biệt “các sự kiện (và các thiết chế)
kinh tế”, các hiện tượng “liên quan về mặt kinh tế” và các hiện tượng “bị quy định về mặt
kinh tế”, và dường như đề nghị với Mác và Roscher rằng, tạp chí cần đề cập đến tất cả ba
loại trên. Thực ra, các diễn giải kinh tế về lịch sử là một trong những mục tiêu quan trọng
nhất của tạp chí [này] (Weber, 1949).
Tuy nhiên, Weber đã không ủng hộ lối ứng xử “một chiều” (“nhất nguyên”, “quy giản”)
của nhiều hoạt động “duy vật” của kinh tế chính trị học. Thực ra, như quan điểm của Mác,
tất cả các cách tiếp cận về yếu tố cá biệt, bao gồm cả “văn hóa” với tính cách là nguyên
nhân cá biệt, đều là sai lầm. Tuy nhiên, cách tiếp cận này ở Weber không rõ như ở Mác là:
liệu phương thức sản xuất có được sự ưu tiên về mặt nhân quả trong việc lý giải các kết
quả. Đây là một vấn đề lý luận quan trọng của kinh tế chính trị học và điều này phân biệt
các biến thái của kinh tế chính trị học mác xít và phi mác xít đang thịnh hành hiện nay bao
gồm cả các quan điểm nữ quyền và các quan điểm phi chính thống khác nhau.
Vấn đề này đã được minh họa một cách sinh động trong cuộc tranh luận chủ yếu giữa
Nancy Frazer và Iris Marion Young liên quan đến kinh tế chính trị học mác xít và thuyết
nữ quyền. Nói một cách tóm tắt, Frazer cho rằng, trong thế giới “hậu-xã hội chủ nghĩa”,
công bằng cần đến cả sự thừa nhận và lẫn sự phân phối lại. Bà lưu ý rằng, tất nhiên “trong
thế giới hiện thực”, văn hóa và kinh tế chính trị luôn đan xen lẫn nhau” (Fraser, 1995: 70).
Tuy vậy, vì chúng có lôgíc khác nhau, nên bà đòi hỏi một sự phân tích chuyên biệt chúng
với nhau về mặt phân tích. Theo bà, những lôgíc khác nhau này đã đưa ra một “tình trạng
khó xử” đến nỗi việc đạt được sự thừa nhận có thể hủy hoại việc đạt được sự công bằng
và ngược lại. Bà đưa ra cái mà bà coi là một giải pháp. Ngược lại, Young lại thấy rằng,
cách điều trị này lại tồi tệ hơn chính căn bệnh. Bà cho rằng, “thà đối lập kinh tế chính trị
với văn hóa”, rằng “về mặt lý luận và chính trị, sẽ hiệu quả hơn, khi đa nguyên hóa các
lĩnh vực và quan niệm chúng như là có sự liên quan khác nhau đối với các nhóm khác
nhau và các vấn đề khác nhau”. Theo cách nhìn của bà về chủ đề này, “sự phân đôi ở
Fraser . . . đưa bà đến chỗ xuyên tạc các phong trào nữ quyền, phong trào chống phát xít
và phong trào giải phóng nam đồng tính như là việc yêu cầu thừa nhận như là mục đích tự
thân, khi các phong trào đó được quan niệm rõ hơn với tính cách là bày tỏ sự thừa nhận
văn hóa là phương tiện để đạt được sự công bằng về kinh tế và chính trị” (Young, 1997:
148).
Bởi vì cả hai đều đồng ý rằng, trong thế giới hiện thực, văn hóa và kinh tế chính trị luôn là
không thể tách dời, câu hỏi về cách tốt nhất để tạo ra lý thuyết này, thực sự trở thành vấn
đề trung tâm.
Cuối cùng, chúng ta cần phải đề cập đến công trình của các nhà kinh tế chính trị học được
gọi là “người Áo”, những người mà tiếp theo công trình của Ludwig von Mises và
Frederick, đã đưa ra lời phê phán gay gắt đối với lý thuyết đại cương về sự cân bằng, một
lý thuyết đưa ra cách tiếp cận lịch sử và cụ thể, giống như lý thuyết của Mác. Các tác giả
này đã tranh luận một cách thuyết phục rằng, để bảo vệ kế hoạch hóa tập trung, một cách
nghịch lý, các tác giả mác xít buộc phải khẳng định lý thuyết chủ đạo đã sai lầm nghiêm
trọng; như vậy, họ bác bỏ chủ nghĩa xã hội. Song, họ không chỉ ra được rằng, không có
các hình thái hợp lý nào của chủ nghĩa xã hội thị trường có thể phù hợp với quan niệm
kinh tế chính trị học của Mác. Có thể là có ích khi đặt ra vấn đề ở đây.
Tiếp theo Mises (1936), Boettke (1998: 134) đã tổng kết các luận chứng chống chủ nghĩa
xã hội.
- Không có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sẽ không có thị trường dành cho tư
liệu sản xuất;
- Không có một thị trường dành cho tư liệu sản xuất, sẽ không có các giá cả tiền tệ
được thiết lập cho tư liệu sản xuất;
- Không có các giá cả tiền tệ phản ánh sự khan hiếm tương đối của tư liệu sản xuất,
thì những nhà đưa ra quyết định kinh tế sẽ không thể tính toán một cách hợp lý
việc sử dụng thay thế đối với các tư liệu sản xuất.
Đối với các cách giải thích chuẩn mực về chủ nghĩa xã hội thị trường, luận điểm 2. và 3. đã
được “giải quyết” bởi sự hấp dẫn của lý thuyết đại cương về sự cân bằng. Song điều này
khẳng định những gì cần phải được xác lập trong quá trình cạnh tranh đang diễn ra, như quan
điểm nhất quán của các tác giả người Áo [10]. Như Hayek đã quan sát, lý thuyết về sự cân
bằng “bắt đầu từ sự thừa nhận đối với việc cung cấp ‘nhất định’ những hàng hóa khan hiếm.
Nhưng, những hàng hóa nào là những hàng hóa khan hiếm hoặc những thứ nào là hàng hóa,
và chúng khan hiếm và có giá trị như thế nào—một cách chính xác, đây là những thứ mà
người ta có thể phát hiện qua cạnh tranh”. (Hayek, 1978: 181)
Nhưng tại sao sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất lại là cần thiết? Câu trả lời dường như là
thẳng thắn: Trong chủ nghĩa tư bản, có nhiều chủ sở hữu của các tư liệu sản xuất, mỗi chủ sở
hữu đều quan tâm đến lợi nhuận và họ chỉ có quan hệ đối với các thị trường. Với tính cách là
những người mua và những người bán tư bản, họ đưa ra các đánh giá về việc sử dụng đối với
tư bản được đầu tư. Những giao dịch này tạo ra tỷ giá trao đổi với tính cách là giá cả tiền tệ.
Tuy nhiên, như Hayek đánh giá một cách rõ ràng, tùy thuộc vào một loạt yếu tố, những thị
trường này biến đổi rất đáng kể về bản chất và tính chất của chúng. Vì vậy, ông đã có lý khi
nhận xét:
Không có lý do gì để khẳng định rằng, các thiết chế hợp pháp được quy định về mặt lịch sử
nhất thiết là “đương nhiên” nhất trong mọi ý nghĩa. Việc thừa nhận nguyên tắc sở hữu tư
nhân tuyệt nhiên không hẳn ngụ ý rằng việc xác định giới hạn đặc thù đối với các nội dung
của quyền sở hữu tư nhân này, một quyền được quy định bởi luật pháp hiện hành, là phù hợp
nhất.
Các nhà kinh tế đã phớt lờ một cách tồi tệ câu hỏi, chẳng hạn như cơ cấu thường trực phù
hợp nhất với yếu tố nào, yếu tố nào sẽ đảm bảo hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhất và êm
thấm nhất, yếu tố nào có tầm quan trọng lớn nhất và yếu tố nào phải được chấp nhận (1935:
22).
Sự phớt lờ này không phải là hoàn toàn, nếu gần là như vậy. Giải pháp mác xít bị bỏ qua rất
nhiều, nhưng có ảnh hưởng đối với vấn đề này, đã được đưa ra bởi quan niệm của Elson
(1988) về “Chủ nghĩa xã hội thị trường hay Chủ nghĩa xã hội của thị trường”. Elson đưa ra sự
phân tích rất nghiêm túc của Mác về bái vật giáo hàng hóa và tranh luận rằng nó có thể được
nhằm vào một cách cơ bản bằng cách thực hiện mọi việc trao đổi rõ ràng. Thực ra, ưu thế của
quan niệm chủ đạo về thị trường tư bản gắn liền với thất bại của các nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung đã làm thu hẹp các phương án lựa chọn đối với một xã hội tốt đẹp hơn. Chỉ có kinh
tế chính trị học mới có thể giải quyết được điều này, một công việc khẩn cấp đặc biệt trong
thời đại hiện nay.
Chú thích
- Có một tạp chí The New Political Economy (London: Routledge), một tạp chí hướng đến
“việc tạo ra một diễn đàn dành cho hoạt động liên kết quan điểm rộng rãi xác định đặc trưng
của kinh tế chính trị học cổ điển của thế kỷ XIX với việc đưa ra các phân tích về khoa học xã
hội thế kỷ XX”. Việc đưa ra các phân tích này, về cơ bản, là những phương tiện và lý luận
của kinh tế học chủ đạo hiện nay. “Kinh tế chính trị mới” cũng bao gồm nhiều hoạt động được
thể hiện bởi lý thuyết chủ đạo về kinh tế chính trị liên quan đến các quan hệ quốc tế.
- Có thể đề cập đến công trình của Thorstein Veblen, John R. Commons và John Kenneth
Galbraith. Xem Dobbin, 2004, một hợp tuyển có giá trị trong số nhiều công trình khác được
viết gần đây bởi các nhà xã hội học kinh tế.
- Xem The Review of Radical Political Economics (Nxb Sage), một tạp chí “công bố các bài
báo về lý thuyết kinh tế chính trị cực đoan và các phân tích ứng dụng từ hàng loạt các truyền
thống lý luận, bao gồm truyền thống thể chế luận, hậu Keynes, nữ quyền, mà không bị giới
hạn ở truyền thống mác xít”. Cũng xem các tạp chí khác nhau về cái được gọi là “kinh tế học
phi chính thống”. (http://www.orgs.bucknell.edu/afee/HetJrnls.htm). Đối với Green
Economics, xem http://www.greeneconomics.net/what2f.htm. Các công trình của người Áo
có thể tìm ở Review of Austrian Economics (Kluwer Academic Publishing).
- Nghĩa là: không có cả tư bản độc quyền lẫn thiểu số độc quyền hàng hóa; có đầu vào tự do
cũng như đầu ra tự do; tri thức hoàn hảo và các loại hàng hóa thì khá đồng đều.
- Những sự lựa chọn này chắc chắn là tùy ý, một đặc trưng cơ bản của thị trường đối nghịch
với kế hoạch hóa tập trung,nhưng vấn đề: liệu những lựa chọn đó có tự do hay không, lại phụ
thuộc vào câu hỏi người ta muốn nói đến cái gì. Thậm chí, nếu tất cả những lựa chọn đó là
đáng sợ, mà không có sự đe dọa bạo lực, thì sự lựa chọn của người nào đó vẫn là tùy ý.
Nhưng nếu tự do là khả năng làm cái mà người ta muốn, thì nó được phân chia một cách
không bình đẳng. Người nghèo tự do ngủ dưới gầm cầu, mà không có tiền vé máy bay, không
được tự do đi nghỉ ở Honolulu. Có những ưu thế đáng kể về tư tưởng khi người ta nhầm lẫn
giữa “tùy ý” và “tự do”. Xem: Manicas, A Realist Philosophy of Social Science (Cambridge:
Cambridge University Press), 2006, Chương 6.
- Về sự nghi ngờ khác thường nào đó được đưa ra bởi những kiến thức chủ đạo nhất của
môn học, xem: the AEA Presidential Addresses of Wassily Leontief (1971) James Tobin
(1972), and Robert Solow (1980). Những đề tài tương tự được thể hiện bởi những người
trong cuộc khác có danh tiếng như Lester Thurow, (1983) and (Lord) Thomas Balough
(1982), A.O. Hirshman (1985) và Amartya K. Sen (1977). Về một loạt các phân tích phê
phán, xem trong phần phụ lục cho tác phẩm, được trích dẫn ở chú thích 1, the Progressive
Economics Forum (www.web.ca/~pef) and Post-Autistics Economics Review:
http://www.paecon.net/PAEReview/issue41/contents41.htm. Về phê phán chủ nghĩa tự do
mới bởi người trong cuộc, xem: Stiglitz, 2002.
- Toán học, môn học khẳng định tính chất tuyến tính và độ cong, dễ dàng thích hợp với mô
hình tân cổ điển về sự cạnh tranh hoàn hảo, thậm chí khi nó muốn nói đến việc bỏ qua những
tính chất tuyến tính của thế giới, mà nó đã không thích hợp với toán học. Xem: bài viết của
tôi "Endogenous Growth Theory: The Most Recent 'Revolution' in Economics," Post-Autistics
Economic Review, Vol. 4 (5 March 2007).
- Về nguyên nhân đầy đủ của vấn đề lý giải, xem công trình của tôi: A Realist Philosophy of
Social Science, Chương 1.
- Có rất nhiều thí dụ tập trung vào một loạt vấn đề khác nhau. Chẳng hạn có thể kể đến:
Willis (1981), Lerner (1987), Chakrabarty (1989), Braverman (1998), Harvey (1990), Gowan
(1999), Cumings (2005), Davis (2006).
- “Cạnh tranh” không phải là một hình ảnh được lý tưởng hóa của lý thuyết tân
cổ điển (chú thích, mà về cơ bản là ý thức thường ngày trong đó các nhà hoạt động này tìm cách làm tốt
hơn các nhà hoạt động khác).
|
|
|