CONTENTS
Ancient Western Philosophy
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
Political Philosophy in the Period of Building an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University
Political Economy: A Brief Overview
Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa
The Philosophy of Language and Thought
Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University
Aesthetics
— Mỹ học
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
The Mind-Body Problem
Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Khảo cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences)
 Center for Vietnamese Philosophy > Handbook on Philosophy Last update: 2007-10-14 
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University
 

Vấn đề tinh thần–thân thể

Clyde Dunton–Gallagher
Đại học Temple

Translated by Associate Prof. Dr. Nguyễn Vũ Hảo, Fulbright Scholar at Temple, 2010-2011

Vấn đề tinh thần–thân thể có lẽ là vấn đề trung tâm nhất trong triết học tinh thần. Cuộc tranh luận chủ yếu liên quan đến trạng thái của các hiện tượng tinh thần và quan hệ của chúng đối với các hiện tượng thân thể. Con người (và có thể cả những động vật khác) có những năng lực tinh thần. Có thể nói rằng, chúng ta là “những chủ thể có ý thức” và đây là bộ phận quan trọng nhất của một cái gì đó giống như một con người. Chúng ta có thể suy nghĩ và chúng ta có thể có niềm tin liên quan đến thế giới. Khả năng định hướng tư tưởng vào thế giới và suy xét về các sự vật như vậy được gọi là “tính ý hướng”, một khái niệm gắn liền với nhà triết học và tâm lý học Franz Brentano (1838–1917) trong thời kỳ cận đại. Tính ý hướng và ý thức liên quan đến “những đặc điểm của cái tinh thần”. Đồng thời, các hiện tượng tinh thần tất nhiên là khó giải thích hay lý giải, đặc biệt là theo cách nhìn đối với sự kiện được xem là rõ ràng giống như con người có thân thể. Ý thức và tính ý hướng có thể xuất hiện trong thân thể như thế nào? Thân thể có thể chứa đựng tinh thần như thế nào? Vấn đề tinh thần – thân thể liên quan đến bản chất của tinh thần, bản chất của thân thể và mối quan hệ có thể giữa chúng.

Các quan niệm của người ta về vấn đề tinh thần–thân thể có liên quan trực tiếp đến nhiều vấn đề khác của triết học và các lĩnh vực gần gũi. Chẳng hạn, lập trường của người ta trong lý thuyết về hành vi, lĩnh vực liên quan đến ý chí tự do và tác động của con người, phụ thuộc vào cách nhìn của họ đối với thân thể và tinh thần. Như vậy, diện mạo cá nhân gắn liền với cuộc tranh cãi về mối quan hệ tinh thần – thân thể. Về bản chất, diện mạo cá nhân có thuộc về tinh thần hay linh hồn không? Tinh thần có thể tồn tại mà không có thân thể hay không? Tinh thần hay diện mạo cá nhân có thể tiếp tục tồn tại sau khi thân thể bị hủy hoại hay không? Đây có phải là cái được coi là sự bất tử hay không? Những chủ đề được đưa ra bởi vấn đề tinh thần – thân thể cũng là những chủ đề trung tâm đối với nghiên cứu tâm lý học về con người. Khi người ta nghiên cứu những niềm tin, những khát vọng và các hiện tượng tinh thần khác, thì thực ra là họ đang nghiên cứu cái gì? Chẳng hạn, có người ta cho rằng tinh thần không phải là gì khác hơn là các sự kiện và hoạt động của hệ thần kinh về mặt thể chất, có người thì có xu hướng cho rằng những gì mà chúng ta gọi là niềm tin và khát vọng, thực ra chỉ là sự tưởng tượng về mặt tâm lý con người. Có những người lại cho rằng những khái niệm mà chúng ta sử dụng để mô tả các trạng thái tinh thần, chỉ đóng vai trò khám phá tạm thời, và có thể bị thay thế, nếu và khi nhận thức khoa học của chúng ta về hệ thần kinh có thể đảm bảo được sự giải thích về mặt thể chất một cách phù hợp về các hiện tượng này. Các nhà triết học khác ủng hộ quan điểm cho rằng có thể không bao giờ có được lời giải thích của những người theo thuyết vật lý về các hiện tượng tinh thần, cũng như không thể có tình trạng những tiến bộ như vậy được thực hiện trong khoa học.

Nhiều quan điểm khác về bản chất của tinh thần và thân thể đã được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề đó. Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả vắn tắt về một số quan điểm chiến lược, có ảnh hưởng lớn hơn.

Thuyết nhị nguyên, quan điểm cho rằng tinh thần và thân thể của người ta là khác nhau, có thể được xem là có nguồn gốc từ Platon (427-347 trước CN), người đã coi linh hồn bất tử và thân thể không thể sống mãi, là tách biệt. Các luận chứng có ảnh hưởng của Rene Descartes (1596- 1650) trong tác phẩm Những suy ngẫm đã khiến niềm tin vào một tinh thần và thân thể khác biệt đã trở thành vấn đề. Ông lý giải rằng, tinh thần và thân thể là những thực thể khác nhau, rằng bản chất của tinh thần là tư tưởng, còn bản chất của thân thể là không gian. Các nhìn này, một cách nhìn nói chung đã được thể hiện với tính cách là “thuyết nhị nguyên thực thể” cho rằng, thân thể là thực thể vật chất và quảng tính, còn tinh thần là thực thể tư duy.

Một trong những khó khăn chủ yếu ở cách nhìn này, cách nhìn mà Princess Elizabeth of Bohemia (1630-1714) đã nêu ra phù hợp với quan niệm của Descartes, liên quan đến cách thức mà theo đó hai thực thể có thể tương tác với nhau, cho dù chỉ ở mức độ nào đó. Descartes cho rằng, tuyến tùng là nơi hay là điểm tương tác nhân quả giữa các thực thể khác nhau: tinh thần và thân thể. Lập trường của Descartes có liên quan đến “thuyết tương tác của ông”, bởi vì ông tin rằng hai thực thể nằm trong mối tương tác nhân quả với nhau: các sự kiện tinh thần có thể gây ra các sự kiện vật lý (như trong sự vận động có chủ ý) và các hiện tượng vật lý cũng có thể gây ra các sự kiện tinh thần (trong cảm giác như khi cái đinh nhọn gây ra sự trải nghiệm về cái đau). Khó khăn của thuyết tương tác nhị nguyên là ở chỗ nó đề xuất ba loại tương tác nhân quả khác nhau: tương tác trong các tư tưởng, tương tác trong các khách thể vật lý, và tương tác giữa các tư tưởng và các khách thể vật lý. Nếu các quy luật vật lý dường như giải thích cho tất cả những vận động vật lý, thì quan điểm cho rằng một số sự kiện vật lý được gây ra bởi các sự kiện tinh thần, lại dường như đòi hỏi rằng một số sự kiện vật lý bị quy định lại về mặt nhân quả, rằng các sự kiện vật lý, có thể nói, có hai nguyên nhân khả dĩ khác nhau. Tuy nhiên, người ta có thể hỏi: một sự kiện vật lý nào đó như cánh tay của tôi được giơ lên có thể được giải thích liên quan đến một nguyên nhân tinh thần và một nguyên nhân vật lý một cách hoàn toàn đầy đủ như thế nào? Nguyên nhân tinh thần có phải là vô ích trong việc giải thích về sự kiện vật lý hay không? Hai thực thể đặc thù như tinh thần và thân thể có khả năng tương tác ở vị trí khởi đầu như thế nào? Một sự kiện tinh thần có thể gây ra một sự kiện vật lý một cách chính xác như thế nào hoặc ngược lại? Một giải pháp cho vấn đề tương tác đã được đề xuất bởi Gottfried Leibniz (1646-1716) và Nicolas Malebranche (1638-1715), những nhà tư tưởng đã phát triển một biến thể của nhị nguyên luận Descartes mà không dựa vào thuyết tương tác, được gọi là “thuyết song trùng”. Họ cho rằng, thực ra hai thực thể tinh thần và thân thể không tương tác với nhau, mà chỉ ngang hàng với nhau. Các cách nhìn này tránh vấn đề của thuyết tương tác bằng cách đẩy nó sang một bên. Tuy nhiên, khi đó họ vẫn phải giải thích làm thế nào mà các sự kiện tinh thần và vật chất được gắn kết thường xuyên như vậy. Leibniz và Malebranche đã dựa vào những luận cứ đáng ngờ của thần học để giải thích về sự gắn kết này.

Một quan điểm nhị nguyên khác, “thuyết hiện tượng phụ” cho rằng, sự tương tác nhân quả diễn ra chỉ theo một hướng từ yếu tố vật chất đến yếu tố tinh thần. Như thế, các sự kiện tinh thần được gây ra bởi các sự kiện vật chất, chứ các sự kiện vật chất không được gây ra bởi các sự kiện tinh thần. Cách nhìn này tránh vấn đề tác động qua lại và sự cần thiết của mong muốn sâu sắc trong việc lý giải về sự liên kết giữa các sự kiện vật chất và các sự kiện tinh thần. Tuy nhiên, được coi là bênh vực nhị nguyên luận thực thể, thuyết hiện tượng phụ vẫn cần phải giải quyết được vấn đề: một thực thể quảng tính có thể tương tác với một thực thể phi quảng tính như tư tưởng như thế nào? Thuyết hiện tượng phụ cũng có thể được xem như phù hợp với nhất nguyên luận thực thể với nhiều biến thể của nó.

“Nói chung, nhất nguyên luận là quan niệm cho rằng tinh thần và thân thể chỉ là một thực thể. Baruch Spinoza (1632–1677) đã đưa ra quan điểm nhất nguyên, một quan điểm có liên quan đến một “khía cạnh kép”. Theo Spinoza, chỉ có duy nhất một thực thể, thực thể này có hai khía cạnh hay hai thuộc tính: tư tưởng và quảng tính. Một trong những hình thái hiện nay của nó là học thuyết liên quan đến “nhị nguyên luận thuộc tính”. Chủ nghĩa duy tâm của George Berkeley (1685–1753) là một học thuyết nhất nguyên có khía cạnh kép theo đó mọi thứ đều có tính tinh thần. Từ quan niệm của Berkeley, cả các hiện tượng tinh thần lẫn các hiện tượng vật chất đều là các cảm giác theo ý Chúa. David Hume (1711-1776), Ernst Mach (1838-1916) và Bertrand Russell (1872–1970) đã luận chứng cho “chủ nghĩa nhất nguyên trung tính”. Cách tiếp cận này cho rằng cái tinh thần và cái vật lý thực ra chỉ là một bó của các thực thể trung tính. Russell coi cách giải thích của mình về các thực thể trung tính là có thể cảm nhận được và cho rằng, các hiện tượng tinh thần và vật chất là các kết cấu lôgíc của cái được cảm giác. “Hiện tượng luận” là lập trường nhất nguyên khác theo đó những mệnh đề có tính quan sát về cái tinh thần được đưa ra để đề cập đến những biểu hiện bên ngoài có ý thức, mang tính hiện tượng. Lập trường này được ủng hộ bởi A. J. Ayer (1910–1989) trong thế kỷ XX và nói chung được xác nhận như một biến thể của nhất nguyên luận trung tính hay của chủ nghĩa duy tâm.

“Chủ nghĩa duy vật” là một quan điểm nhất nguyên cho rằng chỉ có một loại thực thể và thực thể đó chỉ có một loại thuộc tính, các thuộc tính vật chất. Sự phát triển của vật lý học đã làm cho quan điểm này được phổ biến rộng rãi vào nửa đầu thế kỷ XX. Gilbert Ryle (1900–1976), người đã mang đến một nhãn mác khá thú vị cho tinh thần Descartes như là “bóng ma của một cỗ máy”, lập luận rằng, sự tin tưởng rằng khái niệm “tinh thần” có liên quan đến một bản thể đặc thù, khác biệt với thân thể, là một sai lầm về mặt phạm trù. Ryle cho rằng, các trạng thái tinh thần như những niềm tin hay khát vọng mô tả các năng lực hay các xu hướng hành vi như là cái đối nghịch với các trạng thái nhất định của một bản thể riêng biệt. Chẳng hạn, câu “Sally tin rằng trời đang mưa” chỉ là mô tả một trạng thái nhất định có tính chất xu hướng của Sally thực hiện hành vi công khai, chứ không có gì hơn. Như vậy, quan điểm của Ryle là cách giải thích của “chủ nghĩa hành vi”. “Chủ nghĩa hành vi lôgic” là quan điểm cho rằng tất cả các từ vựng của chúng ta về mặt tâm lý học (như niềm tin, nỗi đau, v.v.) có thể chuyển thành các xu hướng hành vi tiềm năng. Tuy nhiên, lập trường của chủ nghĩa hành vi, một học thuyết được truyền bá rộng rãi giữa thế kỷ XX, cũng có những khó khăn của nó. Chẳng hạn, người ta có thể bị đau mà vẫn không biểu hiện bất kỳ hành vi nào hoặc không có khuynh hướng thực hiện hành vi theo một cách nhất định. Tương tự như vậy, người ta vẫn có thể giữ đức tin của mình và vẫn thất bại trong việc thể hiện đức tin đó trong hành động, như trong các trường hợp lừa dối.

Một biến thể khác của chủ nghĩa duy vật là “Lý thuyết về sự đồng nhất” được do Herbert Feigl (1902–1988), J.J.C. Smart (1920–), Ullin Place (1924–2000) và những người khác chủ trương. Quan niệm này cho rằng, các trạng thái tinh thần là đồng nhất với các trạng thái của bộ não và các cảm giác là đồng nhất với các quá trình vật chất. Theo cách nhìn này, những mệnh đề về sự đồng nhất của tinh thần – vật chất được xem là ngẫu nhiên và về mặt kinh nghiệm là không thể nhận biết được. Mệnh đề “cái đau chỉ là việc đốt cháy sợi–c” được xem là tương tự với các mệnh đề khác có thể kiểm chứng về mặt khoa học như “Nhiệt là sự chuyển động của phân tử” hay “ánh sáng là là sự phóng điện”. Những người phê phán lý thuyết về sự đồng nhất lập luận rằng lý thuyết đó đã thất bại trong việc giải thích bản chất định tính của ý thức và tính ý hướng. Nó cũng thất bại trong việc làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa con người và môi trường. Hilary Putnam, trong thực nghiệm tư tưởng nổi tiếng của mình “trái đất song sinh”, đã tranh luận rằng hai người có thể là đồng nhất về mặt tình trạng bộ não, song lại khác nhau ở những gì mà họ tin vào vì những khác biệt trong môi trường xung quanh họ.

“Chủ nghĩa duy vật loại trừ” là một biến thể khác của chủ nghĩa vật lý, học thuyết tìm cách giải quyết vấn đề tinh thần – thân thể khi lập luận rằng, một cách đơn giản, các trạng thái tinh thần và thuộc tính tinh thần là không tồn tại. Đó là quan niệm cho rằng các mệnh đề gán các trạng thái tinh thần cho các cá nhân, là hoàn toàn sai lầm. Lý thuyết này nói rằng các từ vựng về tâm lý học người (“những niềm tin” , “những khao khát”, v.v..) là không liên quan, là có họ hàng với các từ vựng quy các thế lực siêu tự nhiên cho các sự vật.

Thay vì cho rằng, các từ vựng mang tính tâm lý học là không liên quan, Donald Davidson (1917–2003) đã đưa ra một cách hiểu chủ nghĩa duy vật nhất nguyên được ông gọi là “chủ nghĩa nhất nguyên dị thường”. Davidson lập luận rằng, các sự kiện tinh thần là đồng nhất với các sự kiện vật chất, nhưng các sự kiện tinh thần không thể bị quy giảm về các sự kiện vật chất. Cách nhìn này, một cách nhìn nhằm vào các đặc tính bản thể luận nhất định của các sự kiện tinh thần và vật chất, được đưa ra để duy trì 3 khả năng trực giác: (1) Các sự kiện tinh thần tương tác nhân quả với các sự kiện vật chất và ngược lại, (2) Các sự kiện có quan hệ nhân quả, và (3) cái tinh thần là “dị thường” trong ý nghĩa rằng nó có thể được tạo ra để giải thích hay dự báo các sự kiện tinh thần mà không cần có quy luật.

Khi chống lại ý tưởng rằng các sự kiện tinh thần (như sự đau đớn) có thể có mối quan hệ nhân quả với các sự kiện vật chất như các trạng thái của bộ não, một số nhà triết học như Halary Putnam (1926 -) đã tranh luận rằng, các sự kiện tinh thần là “có thể được sinh sôi nảy nở” qua các dạng khác nhau của các trạng thái vật chất. Theo cách nhìn này, các sự kiện tinh thần được tạo ra bởi các bình diện khác nhau trong vai trò chức năng của chúng hơn là bởi bất cứ sự đồng nhất nào với các trạng thái hay sự kiện vật chất. Quan niệm mà cách hiểu ban đầu của nó được George Lewes (1817–1878) đưa ra, dùng để giải thích: các bản thể (chẳng hạn các con vật, các máy vi tính và những loài xa lạ) với các cấu tạo vật chất khác với con người, có thể được coi là có năng lực về các sự kiện ý thức như cảm giác như thế nào. Cách nhìn này không ủng hộ cả nhất nguyên luận lẫn nhị nguyên luận, nhưng nhiều người theo cách nhìn này cho rằng thuyết chức năng là phù hợp với chủ nghĩa duy vật nhất nguyên.

Các cách nhìn duy vật này, các cách nhìn đã nhận được sự chú ý lớn trong một vài thập kỷ vừa qua, cũng không phải là không bị chỉ trích. Đôi lúc, các cách nhìn duy vật bị cáo buộc về một nhược điểm tai hại: Sự khó khăn của việc không thể giải thích các hiện tượng được gọi là định tính như “thế nào là nhìn thấy màu đỏ”, một điểm đã được Frank Jackson (1943–) đưa ra trong luận chứng nổi tiếng của mình. Các chỉ trích kiểu này đã đề xuất khả năng rằng, thậm chí nếu hiểu biết của chúng ta về cấu tạo vật chất, về các hoạt động của bộ não và về các cấu trúc được cải thiện một cách mạnh mẽ, thì tình trạng của tinh thần với tính cách là thực thể phi vật chất sẽ chỉ còn là lĩnh vực chủ yếu của tranh luận triết học.


 
 

Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Gladfelter Hall, Room 1016
Temple University Philadelphia, PA 19122 Contact: vietcent@temple.edu