Vấn đề tinh thần–thân thể có lẽ là vấn đề trung tâm nhất trong triết học
tinh thần. Cuộc tranh luận chủ yếu liên quan đến trạng thái của các hiện
tượng tinh thần và quan hệ của chúng đối với các hiện tượng thân thể.
Con người (và có thể cả những động vật khác) có những năng lực tinh
thần. Có thể nói rằng, chúng ta là “những chủ thể có ý thức” và đây là bộ
phận quan trọng nhất của một cái gì đó giống như một con người. Chúng
ta có thể suy nghĩ và chúng ta có thể có niềm tin liên quan đến thế giới.
Khả năng định hướng tư tưởng vào thế giới và suy xét về các sự vật như
vậy được gọi là “tính ý hướng”, một khái niệm gắn liền với nhà triết học
và tâm lý học Franz Brentano (1838–1917) trong thời kỳ cận đại. Tính
ý hướng và ý thức liên quan đến “những đặc điểm của cái tinh thần”.
Đồng thời, các hiện tượng tinh thần tất nhiên là khó giải thích hay lý giải,
đặc biệt là theo cách nhìn đối với sự kiện được xem là rõ ràng giống như
con người có thân thể. Ý thức và tính ý hướng có thể xuất hiện trong
thân thể như thế nào? Thân thể có thể chứa đựng tinh thần như thế nào?
Vấn đề tinh thần – thân thể liên quan đến bản chất của tinh thần, bản
chất của thân thể và mối quan hệ có thể giữa chúng.
Các quan niệm của người ta về vấn đề tinh thần–thân thể có liên quan
trực tiếp đến nhiều vấn đề khác của triết học và các lĩnh vực gần gũi.
Chẳng hạn, lập trường của người ta trong lý thuyết về hành vi, lĩnh vực
liên quan đến ý chí tự do và tác động của con người, phụ thuộc vào cách
nhìn của họ đối với thân thể và tinh thần. Như vậy, diện mạo cá nhân
gắn liền với cuộc tranh cãi về mối quan hệ tinh thần – thân thể. Về bản
chất, diện mạo cá nhân có thuộc về tinh thần hay linh hồn không? Tinh
thần có thể tồn tại mà không có thân thể hay không? Tinh thần hay diện
mạo cá nhân có thể tiếp tục tồn tại sau khi thân thể bị hủy hoại hay
không? Đây có phải là cái được coi là sự bất tử hay không? Những chủ
đề được đưa ra bởi vấn đề tinh thần – thân thể cũng là những chủ đề
trung tâm đối với nghiên cứu tâm lý học về con người. Khi người ta
nghiên cứu những niềm tin, những khát vọng và các hiện tượng tinh thần
khác, thì thực ra là họ đang nghiên cứu cái gì? Chẳng hạn, có người ta
cho rằng tinh thần không phải là gì khác hơn là các sự kiện và hoạt động
của hệ thần kinh về mặt thể chất, có người thì có xu hướng cho rằng
những gì mà chúng ta gọi là niềm tin và khát vọng, thực ra chỉ là sự
tưởng tượng về mặt tâm lý con người. Có những người lại cho rằng
những khái niệm mà chúng ta sử dụng để mô tả các trạng thái tinh thần,
chỉ đóng vai trò khám phá tạm thời, và có thể bị thay thế, nếu và khi
nhận thức khoa học của chúng ta về hệ thần kinh có thể đảm bảo được sự
giải thích về mặt thể chất một cách phù hợp về các hiện tượng này. Các
nhà triết học khác ủng hộ quan điểm cho rằng có thể không bao giờ có
được lời giải thích của những người theo thuyết vật lý về các hiện tượng
tinh thần, cũng như không thể có tình trạng những tiến bộ như vậy được
thực hiện trong khoa học.
Nhiều quan điểm khác về bản chất của tinh
thần và thân thể đã được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề đó. Trong
phần tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả vắn tắt về một số quan điểm chiến
lược, có ảnh hưởng lớn hơn.
Thuyết nhị nguyên, quan điểm cho rằng tinh thần và thân thể của người
ta là khác nhau, có thể được xem là có nguồn gốc từ Platon (427-347
trước CN), người đã coi linh hồn bất tử và thân thể không thể sống mãi,
là tách biệt. Các luận chứng có ảnh hưởng của Rene Descartes (1596-
1650) trong tác phẩm Những suy ngẫm đã khiến niềm tin vào một tinh
thần và thân thể khác biệt đã trở thành vấn đề. Ông lý giải rằng, tinh
thần và thân thể là những thực thể khác nhau, rằng bản chất của tinh
thần là tư tưởng, còn bản chất của thân thể là không gian. Các nhìn này,
một cách nhìn nói chung đã được thể hiện với tính cách là “thuyết nhị
nguyên thực thể” cho rằng, thân thể là thực thể vật chất và quảng tính,
còn tinh thần là thực thể tư duy.
Một trong những khó khăn chủ yếu ở cách nhìn này, cách nhìn mà
Princess Elizabeth of Bohemia (1630-1714) đã nêu ra phù hợp với quan
niệm của Descartes, liên quan đến cách thức mà theo đó hai thực thể có
thể tương tác với nhau, cho dù chỉ ở mức độ nào đó. Descartes cho rằng,
tuyến tùng là nơi hay là điểm tương tác nhân quả giữa các thực thể khác
nhau: tinh thần và thân thể. Lập trường của Descartes có liên quan đến
“thuyết tương tác của ông”, bởi vì ông tin rằng hai thực thể nằm trong
mối tương tác nhân quả với nhau: các sự kiện tinh thần có thể gây ra các
sự kiện vật lý (như trong sự vận động có chủ ý) và các hiện tượng vật lý
cũng có thể gây ra các sự kiện tinh thần (trong cảm giác như khi cái đinh
nhọn gây ra sự trải nghiệm về cái đau). Khó khăn của thuyết tương tác
nhị nguyên là ở chỗ nó đề xuất ba loại tương tác nhân quả khác nhau:
tương tác trong các tư tưởng, tương tác trong các khách thể vật lý, và
tương tác giữa các tư tưởng và các khách thể vật lý. Nếu các quy luật vật
lý dường như giải thích cho tất cả những vận động vật lý, thì quan điểm
cho rằng một số sự kiện vật lý được gây ra bởi các sự kiện tinh thần, lại
dường như đòi hỏi rằng một số sự kiện vật lý bị quy định lại về mặt nhân
quả, rằng các sự kiện vật lý, có thể nói, có hai nguyên nhân khả dĩ khác
nhau. Tuy nhiên, người ta có thể hỏi: một sự kiện vật lý nào đó như cánh
tay của tôi được giơ lên có thể được giải thích liên quan đến một nguyên
nhân tinh thần và một nguyên nhân vật lý một cách hoàn toàn đầy đủ
như thế nào? Nguyên nhân tinh thần có phải là vô ích trong việc giải
thích về sự kiện vật lý hay không? Hai thực thể đặc thù như tinh thần và
thân thể có khả năng tương tác ở vị trí khởi đầu như thế nào? Một sự
kiện tinh thần có thể gây ra một sự kiện vật lý một cách chính xác như
thế nào hoặc ngược lại?
Một giải pháp cho vấn đề tương tác đã được đề xuất bởi Gottfried
Leibniz (1646-1716) và Nicolas Malebranche (1638-1715), những nhà tư
tưởng đã phát triển một biến thể của nhị nguyên luận Descartes mà
không dựa vào thuyết tương tác, được gọi là “thuyết song trùng”. Họ cho
rằng, thực ra hai thực thể tinh thần và thân thể không tương tác với
nhau, mà chỉ ngang hàng với nhau. Các cách nhìn này tránh vấn đề của
thuyết tương tác bằng cách đẩy nó sang một bên. Tuy nhiên, khi đó họ
vẫn phải giải thích làm thế nào mà các sự kiện tinh thần và vật chất được
gắn kết thường xuyên như vậy. Leibniz và Malebranche đã dựa vào
những luận cứ đáng ngờ của thần học để giải thích về sự gắn kết này.
Một quan điểm nhị nguyên khác, “thuyết hiện tượng phụ” cho rằng, sự
tương tác nhân quả diễn ra chỉ theo một hướng từ yếu tố vật chất đến yếu
tố tinh thần. Như thế, các sự kiện tinh thần được gây ra bởi các sự kiện
vật chất, chứ các sự kiện vật chất không được gây ra bởi các sự kiện tinh
thần. Cách nhìn này tránh vấn đề tác động qua lại và sự cần thiết của
mong muốn sâu sắc trong việc lý giải về sự liên kết giữa các sự kiện vật
chất và các sự kiện tinh thần. Tuy nhiên, được coi là bênh vực nhị
nguyên luận thực thể, thuyết hiện tượng phụ vẫn cần phải giải quyết
được vấn đề: một thực thể quảng tính có thể tương tác với một thực thể
phi quảng tính như tư tưởng như thế nào? Thuyết hiện tượng phụ cũng
có thể được xem như phù hợp với nhất nguyên luận thực thể với nhiều
biến thể của nó.
“Nói chung, nhất nguyên luận là quan niệm cho rằng
tinh thần và thân thể chỉ là một thực thể. Baruch Spinoza (1632–1677)
đã đưa ra quan điểm nhất nguyên, một quan điểm có liên quan đến một
“khía cạnh kép”. Theo Spinoza, chỉ có duy nhất một thực thể, thực thể
này có hai khía cạnh hay hai thuộc tính: tư tưởng và quảng tính. Một
trong những hình thái hiện nay của nó là học thuyết liên quan đến “nhị
nguyên luận thuộc tính”. Chủ nghĩa duy tâm của George Berkeley (1685–1753) là một học thuyết nhất nguyên có khía cạnh kép theo đó mọi thứ
đều có tính tinh thần. Từ quan niệm của Berkeley, cả các hiện tượng tinh
thần lẫn các hiện tượng vật chất đều là các cảm giác theo ý Chúa. David
Hume (1711-1776), Ernst Mach (1838-1916) và Bertrand Russell (1872–1970) đã luận chứng cho “chủ nghĩa nhất nguyên trung tính”. Cách tiếp
cận này cho rằng cái tinh thần và cái vật lý thực ra chỉ là một bó của các
thực thể trung tính. Russell coi cách giải thích của mình về các thực thể
trung tính là có thể cảm nhận được và cho rằng, các hiện tượng tinh thần
và vật chất là các kết cấu lôgíc của cái được cảm giác. “Hiện tượng luận”
là lập trường nhất nguyên khác theo đó những mệnh đề có tính quan sát
về cái tinh thần được đưa ra để đề cập đến những biểu hiện bên ngoài có
ý thức, mang tính hiện tượng. Lập trường này được ủng hộ bởi A. J. Ayer
(1910–1989) trong thế kỷ XX và nói chung được xác nhận như một
biến thể của nhất nguyên luận trung tính hay của chủ nghĩa duy tâm.
“Chủ nghĩa duy vật” là một quan điểm nhất nguyên cho rằng chỉ có một
loại thực thể và thực thể đó chỉ có một loại thuộc tính, các thuộc tính vật
chất. Sự phát triển của vật lý học đã làm cho quan điểm này được phổ
biến rộng rãi vào nửa đầu thế kỷ XX. Gilbert Ryle (1900–1976), người đã
mang đến một nhãn mác khá thú vị cho tinh thần Descartes như là “bóng
ma của một cỗ máy”, lập luận rằng, sự tin tưởng rằng khái niệm “tinh
thần” có liên quan đến một bản thể đặc thù, khác biệt với thân thể, là
một sai lầm về mặt phạm trù. Ryle cho rằng, các trạng thái tinh thần như
những niềm tin hay khát vọng mô tả các năng lực hay các xu hướng hành
vi như là cái đối nghịch với các trạng thái nhất định của một bản thể
riêng biệt. Chẳng hạn, câu “Sally tin rằng trời đang mưa” chỉ là mô tả
một trạng thái nhất định có tính chất xu hướng của Sally thực hiện hành
vi công khai, chứ không có gì hơn. Như vậy, quan điểm của Ryle là cách
giải thích của “chủ nghĩa hành vi”. “Chủ nghĩa hành vi lôgic” là quan
điểm cho rằng tất cả các từ vựng của chúng ta về mặt tâm lý học (như
niềm tin, nỗi đau, v.v.) có thể chuyển thành các xu hướng hành vi tiềm
năng. Tuy nhiên, lập trường của chủ nghĩa hành vi, một học thuyết được
truyền bá rộng rãi giữa thế kỷ XX, cũng có những khó khăn của nó.
Chẳng hạn, người ta có thể bị đau mà vẫn không biểu hiện bất kỳ hành
vi nào hoặc không có khuynh hướng thực hiện hành vi theo một cách
nhất định. Tương tự như vậy, người ta vẫn có thể giữ đức tin của mình và
vẫn thất bại trong việc thể hiện đức tin đó trong hành động, như trong
các trường hợp lừa dối.
Một biến thể khác của chủ nghĩa duy vật là “Lý thuyết về sự đồng nhất”
được do Herbert Feigl (1902–1988), J.J.C. Smart (1920–), Ullin Place
(1924–2000) và những người khác chủ trương. Quan niệm này cho rằng,
các trạng thái tinh thần là đồng nhất với các trạng thái của bộ não và các
cảm giác là đồng nhất với các quá trình vật chất. Theo cách nhìn này,
những mệnh đề về sự đồng nhất của tinh thần – vật chất được xem là
ngẫu nhiên và về mặt kinh nghiệm là không thể nhận biết được. Mệnh đề
“cái đau chỉ là việc đốt cháy sợi–c” được xem là tương tự với các mệnh
đề khác có thể kiểm chứng về mặt khoa học như “Nhiệt là sự chuyển
động của phân tử” hay “ánh sáng là là sự phóng điện”. Những người phê
phán lý thuyết về sự đồng nhất lập luận rằng lý thuyết đó đã thất bại
trong việc giải thích bản chất định tính của ý thức và tính ý hướng. Nó
cũng thất bại trong việc làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa con người và
môi trường. Hilary Putnam, trong thực nghiệm tư tưởng nổi tiếng của
mình “trái đất song sinh”, đã tranh luận rằng hai người có thể là đồng
nhất về mặt tình trạng bộ não, song lại khác nhau ở những gì mà họ tin
vào vì những khác biệt trong môi trường xung quanh họ.
“Chủ nghĩa duy vật loại trừ” là một biến thể khác của chủ nghĩa vật lý,
học thuyết tìm cách giải quyết vấn đề tinh thần – thân thể khi lập luận
rằng, một cách đơn giản, các trạng thái tinh thần và thuộc tính tinh thần
là không tồn tại. Đó là quan niệm cho rằng các mệnh đề gán các trạng
thái tinh thần cho các cá nhân, là hoàn toàn sai lầm. Lý thuyết này nói
rằng các từ vựng về tâm lý học người (“những niềm tin” , “những khao
khát”, v.v..) là không liên quan, là có họ hàng với các từ vựng quy các
thế lực siêu tự nhiên cho các sự vật.
Thay vì cho rằng, các từ vựng mang tính tâm lý học là không liên quan,
Donald Davidson (1917–2003) đã đưa ra một cách hiểu chủ nghĩa duy
vật nhất nguyên được ông gọi là “chủ nghĩa nhất nguyên dị thường”.
Davidson lập luận rằng, các sự kiện tinh thần là đồng nhất với các sự
kiện vật chất, nhưng các sự kiện tinh thần không thể bị quy giảm về các
sự kiện vật chất. Cách nhìn này, một cách nhìn nhằm vào các đặc tính
bản thể luận nhất định của các sự kiện tinh thần và vật chất, được đưa ra
để duy trì 3 khả năng trực giác:
(1) Các sự kiện tinh thần tương tác nhân quả với các sự kiện vật chất và
ngược lại, (2) Các sự kiện có quan hệ nhân quả, và (3) cái tinh thần là “dị
thường” trong ý nghĩa rằng nó có thể được tạo ra để giải thích hay dự
báo các sự kiện tinh thần mà không cần có quy luật.
Khi chống lại ý tưởng rằng các sự kiện tinh thần (như sự đau đớn) có thể
có mối quan hệ nhân quả với các sự kiện vật chất như các trạng thái của
bộ não, một số nhà triết học như Halary Putnam (1926 -) đã tranh luận
rằng, các sự kiện tinh thần là “có thể được sinh sôi nảy nở” qua các dạng
khác nhau của các trạng thái vật chất. Theo cách nhìn này, các sự kiện
tinh thần được tạo ra bởi các bình diện khác nhau trong vai trò chức
năng của chúng hơn là bởi bất cứ sự đồng nhất nào với các trạng thái hay
sự kiện vật chất. Quan niệm mà cách hiểu ban đầu của nó được George
Lewes (1817–1878) đưa ra, dùng để giải thích: các bản thể (chẳng hạn các
con vật, các máy vi tính và những loài xa lạ) với các cấu tạo vật chất
khác với con người, có thể được coi là có năng lực về các sự kiện ý thức
như cảm giác như thế nào. Cách nhìn này không ủng hộ cả nhất nguyên
luận lẫn nhị nguyên luận, nhưng nhiều người theo cách nhìn này cho rằng
thuyết chức năng là phù hợp với chủ nghĩa duy vật nhất nguyên.
Các cách nhìn duy vật này, các cách nhìn đã nhận được sự chú ý lớn
trong một vài thập kỷ vừa qua, cũng không phải là không bị chỉ trích.
Đôi lúc, các cách nhìn duy vật bị cáo buộc về một nhược điểm tai hại: Sự
khó khăn của việc không thể giải thích các hiện tượng được gọi là định
tính như “thế nào là nhìn thấy màu đỏ”, một điểm đã được Frank
Jackson (1943–) đưa ra trong luận chứng nổi tiếng của mình. Các chỉ
trích kiểu này đã đề xuất khả năng rằng, thậm chí nếu hiểu biết của
chúng ta về cấu tạo vật chất, về các hoạt động của bộ não và về các cấu
trúc được cải thiện một cách mạnh mẽ, thì tình trạng của tinh thần với
tính cách là thực thể phi vật chất sẽ chỉ còn là lĩnh vực chủ yếu của tranh
luận triết học.