CONTENTS
Ancient Western Philosophy
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
Political Philosophy in the Period of Building an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University
Political Economy: A Brief Overview
Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa
The Philosophy of Language and Thought
Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University
Aesthetics
— Mỹ học
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
The Mind-Body Problem
Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy
Khảo cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences)
 Center for Vietnamese Philosophy > Handbook on Philosophy Last update: 2007-10-14 
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University
 

Bản Nháp
Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại

David Wolfsdorf
Đại học Temple
 
Translated by Ngô Thanh Nhàn [1]
I. Giới thiệu

Lịch sử triết học Tây phương cổ đại trải dài hơn một thiên niên kỷ, từ khởi thuỷ vào giữa thế kỷ thứ 7 tr. CN cho đến khoảng thế kỷ thứ 6 sau CN. Đoạn sử này chủ yếu xảy ra trong vùng đất là Hy Lạp ngày nay, nhưng cũng trong vùng Nam Ý, Bắc Phi, và Trung Đông. Trong thời hậu kỳ Cộng hoà và Đế quốc La mã, một số công trình triết học quan trọng được sáng tác bằng tiếng La-tinh, nhưng tiếng Hy lạp vẫn là ngôn ngữ chiếm ưu thế trong triết học và trong hoạt động trí thức nói chung xuyên suốt thời Tây phương cổ đại.

Lịch sử triết học Tây phương cổ đại thường được chia thành bốn thời kỳ: Tiền Cổ đại—thường hay dẫn nhầm là thời Tiền-Socrates[2]—(thế kỷ thứ 7 tr. CN–khoảng năm 430 tr. CN), Cổ đại (430–323 tr. CN), Văn hoá Hy lạp (323–thế kỷ thứ 1 sau CN) và Hậu Cổ đại (thế kỷ thứ 1–thứ 6 sau CN). Giai đoạn chuyển tiếp giữa các thời kỳ này ứng với sự trỗi dậy của Đế quốc Athens vào thế kỷ thứ 5, cái chết của Alexandre Đại đế, sự chia cắt ba mảnh tiếp theo của Đế quốc Macedonia năm 323, sự manh nha của Đế quốc La mã sau trận Actium năm 30 tr. CN, và—tuỳ theo sở thích của mỗi người về điểm chung cuộc—theo thứ tự, là lệnh đóng cửa các trường triết học tà đạo ở Athens của Hoàng đế La mã Justinian năm 529, hay là cuộc chinh phục Alexandria cùa Ả rập năm 640.

Sự phân kỳ này có thể cần được xem xét lại. Đó là một cách thuận tiện để sắp xếp tư tưởng, nhưng giữa các thời kỳ lịch sử này có sự liên tục trí thức rộng lớn hơn chúng ta tưởng.

II. Triết gia và Trường phái

Triết học Tiền Cổ đại và Cổ đại thường được nghiên cứu theo tiêu chí đóng góp của cá nhân: ví dụ, Heraclitus, Parmenides, Anaxagoras, Empedocles, Platon và Aristoteles[2]. Thế nhưng vẫn có ngoại lệ, đó là nhóm các triết gia phái Pythagoras đã tập hợp được một cộng đồng triết học miền Nam nước Ý, và sau đó tại các nơi khác vào thế kỷ thứ 6 và thứ 5 tr. CN. Thời kỳ Văn hoá Hy lạp, nói chung lại thường được nghiên cứu theo học thuyết của trường phái—dù rằng các đại diện sáng lập lỗi lạc của các trường phái ấy nổi bật trong các cuộc thảo luận. Một phần, đó là do bản chất của cứ liệu còn lại. Ví dụ, chúng ta có tóm lược về đạo đức Stoics[3] thời hậu kỳ cổ đại, nhưng lại có ít thông tin hơn về đóng góp của từng cá nhân các nhà tư tưởng Stoics về đạo đức. (Tôi sẽ nói nhiều hơn về tình trạng cứ liệu còn tồn tại ở phần sau.) Mặt khác, trong thời kỳ Văn hoá Hy lạp, một số các trường phái triết học trên thực tế đã phát triển và giữ vững lập trường học thuyết rõ rệt, thường nhằm tranh luận với các nhóm khác.

Trong trên dưới ba thế kỷ rưỡi trước Công nguyên, khung cảnh triết học, với trung tâm địa lý tại Athens, sầm uất nhờ bốn trường phái chính: Hàn lâm do Platon (427–347) sáng lập, Peripat etikos do Aristoteles (384–322) sáng lập, Stoics do Zeno từ Citium (333–261) sáng lập, và Tư viên do Epicurus (341–270) sáng lập. Chủ nghĩa Hoài nghi[4], mà Pyrhho (khoảng 360–270) thường được coi là nhân vật sáng lập, và chủ nghĩa Cynici[5] mà Diogenes từ Sinope (khoảng 412–323) thường được coi là nhân vật sáng lập, cũng đã trở thành gia tài triết học lâu dài, tuy các chủ nghĩa này không được tổ chức giống như các trường phái kia. Thêm vào đó, ngoài Athens, các trường phái Cyrenaics, Elis[6], Eretria và Megara[7] cũng có mặt. Tuy nhiên, họ chỉ tồn tại trong một đoạn thời gian ngắn hơn, và hiểu biết của chúng ta về thành viên và quan điểm của họ rất giới hạn.

Năm 176 sau CN, Hoàng đế La mã Marcus Aurelius, tự mình xứng đáng là một triết gia Stoics, thiết lập ghế triết học ở Athens cho phái Hàn lâm, Peripatetikos, Epicurus, và Stoics. Mặc cho việc định chế hoá các trường phái tách biệt này, tư tưởng triết học hậu cổ đại ngày càng nghiêng về hướng tổng hợp, trước nhất là quan điểm của các phái Hàn lâm, Peripatetikos, và Stoics. Triết học của triết gia phái Hàn lâm Plotinus (205–270) kết tinh khuynh hướng này. Từ đó, triết học hậu Hàn lâm, bây giờ được gọi là chủ nghĩa Tân Platon, nổi lên thành đề mục lớn, do rút ra, diễn dịch lại, và tích hợp từ các yếu tố và tinh hoa trí tuệ của các trường phái khác nhau. Nói tóm lại, triết học của thế kỷ cuối hậu cổ đại đại thể tương đương với triết học Tân Platon, tự nó là sự pha trộn và xào nấu lại của nhiều ý tưởng triết học trước đó.

III. Chứng cứ

Chứng cứ lịch sử triết học Tây phương cổ đại hiện ở trong tình trạng manh mún. Đa số triết học thành văn từ kỷ nguyên này không còn tồn tại, hoặc ít ra cũng không còn trọn vẹn. Thời Tiền Cổ đại chỉ còn lại vỏn vẹn các câu trích, chú giải, và tóm lược do các tác giả mãi về sau này viết. Hơn nữa, văn bản thường bị nhuộm màu rõ rệt bởi thời điểm, phương cách quan niệm hoá, và đôi khi, ví dụ như trường hợp của các nhà văn Thiên chúa giáo, sự thù ghét của các tác giả này đối với đề tài họ viết. Đại thể, điều này cũng đúng với triết học trong hai thế kỷ đầu của thời kỳ văn hoá Hy lạp. Tất cả tác phẩm của Platon, và khoảng một phần ba tác phẩm của Aristoteles, và một số ít tác phẩm của Theophrastus, người kế vì Aristoteles của thời Cổ đại, vẫn còn tồn tại; nhưng đa phần đã bị mất. Chúng ta còn một số tác phẩm chữ La tinh và Hy lạp của chủ nghĩa Epicurus, chủ nghĩa Stoics và chủ nghĩa Hoài nghi của thời hậu văn hoá Hy lạp. Và sau cùng, từ thời hậu cổ đại, chúng ta có nhiều hơn hẳn: trong số đó còn một số bài bình luận về tác phẩm chọn lọc của Platon và Aristoteles, các bài viết về hoài nghi của Sextus Empiricus, lịch sử triết học Hy lạp của Diogenes Laertius, một số tác phẩm Tân Platon của Plotinus, Porphyry, Iamblichus, và Proclus. Nhưng, xin nhắc lại, số mất mát nhiều hơn số hiện còn.

Sự giới hạn của chứng cứ còn sót lại về hoạt động triết học cổ đại đáng chú ý trên hai bình diện. Một, dĩ nhiên, là khả năng hiểu biết lịch sử của chúng ta bị ngăn cản và trở nên phức tạp hơn. Hai là, nghiên cứu triết học cổ đại, mà chỉ dựa vào các văn bản còn nguyên vẹn, nhất là các tác phẩm của Platon và Aristoteles, cho ta một cái nhìn méo mó.

IV. Triết học Tiền Cổ đại

Người ta thường coi triết học Tiền Cổ đại chia thành hai thời kỳ, Tiền Parmenides và Hậu Parmenides, và như vậy, nhân vật Parmenides (sinh khoảng 520 tr. CN) là trụ cột. Triết học Tiền Parmenides, nguồn cội của triết học cổ đại Tây phương, xảy ra trong vùng Ionia là chính (vùng Tây Nam Anatolia ngày nay) và trên hết trong thành phố–nhà nước Miletus (ngày nay là thành phố Milet).

Triết gia Hy lạp đầu tiên, trên một số bình diện, đúng hơn nên được xác định là khoa học gia nguyên thuỷ. Họ quan tâm đến vấn đề nguồn gốc, phát triển, và trật tự của thế giới tự nhiên, của nhân loại, và của xã hội, theo trình tự trên. Khác với khoa học gia, tìm hiểu của họ không, hoặc chỉ trong một mức độ hết sức giới hạn, dựa vào thử nghiệm và các giả định phi-kinh nghiệm đóng một vai trò rất quan trọng trong quan niệm của họ về một thế giới vật chất và sự phát triển của nó. Ví dụ, một triết gia Tiền Cổ đại lý luận rằng quả đất không thể là trung tâm của vũ trụ bởi vì trung tâm là vị trí uy thế cao nhất phải được một vật có uy thế cao nhất ngự vì, và đó không phải là quả đất. Lý luận như thế đối với chúng ta là buồn cười và kỳ lạ bởi vì chúng ta tin rằng câu trả lời cho câu hỏi "quả đất ở vị trí nào trong vũ trụ?" phải dựa vào một loại dữ kiện thực nghiệm nhất định và cũng vì chúng ta không xác định một phần không gian nào tự nó có giá trị hơn hoặc kém. Nhưng, rõ ràng, chủ nghĩa thực nghiệm cũng như quan hệ giữa đạo đức và vật lý có vai trò rất khác trong vũ trụ luận xưa kia.

Bài thơ Về Thiên nhiên của Parmenides là một cột mốc trong lịch sử triết học Tây phương. Sáng tác vào cuối thế kỷ thứ sáu tr. CN tại Elea (ngày nay là Velia ở Tây Nam nước Ý), Parmenides phê phán sự bận tâm quá mức của các bậc tiền bối Ionia của ông về nguồn gốc và phát triển của thiên nhiên và cư dân trong đó. Ông biện luậnrằng, chỉ thuần trên cơ sở lô-gíc, thực tế dĩ nhiên phải đồng nhất, không thay đổi được, nhất thể vĩnh viễn và đó là đối tượng duy nhất của hiểu biết. Parmenides bảo vệ quan điểm này, tiếp đó, gán các tường thuật về thế giới tự nhiên biến dạng và cảm nhận được xuống địa vị ý kiến, và hệ quả là tạo ra sự tách biệt nhận thức luận giữa một bên là cái biết về vũ trụ dựa trên chủ nghĩa thực nghiệm, và (ít nhất cũng cho) một bên là, cái biết về vũ trụ dựa trên lý luận phi thực nghiệm hay chủ nghĩa thuần lý.

Triết học Hậu-Parmenides Tiền-Cổ đại được mô tả bằng những cố gắng hoà giải các kết luận của Parmenides trên quan điểm đồng thuận chung, là thực tế gồm có sự giao tiếp qua lại sống động của các sự vật cảm nhận được. Thật thế, đa số các triết gia hậu Parmenides Tiền Cổ đại chấp nhận các nguyên tố cơ bản của thực tế là không sinh, không hoại, và ít nhất tự nội, không biến đổi. Ví dụ, Democritus cho rằng nguyên tử vật chất cấu thành chất cơ bản của thế giới. Tuy thế, hậu duệ của Parmenides cũng chấp nhận là thay đổi có thật, chính xác là, các nguyên tố nền tảng của vũ trụ vận động, dù chúng là gì đi nữa; chính xác hơn là, chúng hợp hay trộn lẫn và tan rã hay tan biến, nhờ đó phái sinh nhiều loại thực thể và biểu lộ của chúng thường được quan sát thấy.

V. Socrates

Một số học giả đề nghị Parmenides phải thực sự được coi là triết gia Tây phương đầu tiên (theo nghĩa mới nặng trĩu nhận thức luận của từ này), vì bản chất nhận thức luận và lô-gíc trong tư tưởng của ông. Nếu thế, Socrates (469–399) có thể được coi là triết gia đạo đức đầu tiên. Socrates sống ở Athens khi thành phố đang thăng hoa lên vị trí có ưu thế chính trị trong thế giới Hy lạp. Trong thời gian ấy, Athens cũng thành trung tâm địa lý của hoạt động triết học vùng Địa Trung Hải, và giữ vị trí này cho đến khi Đại tướng La mã Sulla bao vây Athens vào năm 87–86 tr. CN. Socrates thấm nhuần tư tưởng triết học cùng thời, và cuối cùng định lại trọng điểm mới của triết học, chuyển vũ trụ học và thiên nhiên vào đạo đức và cuộc sống con người. Như triết gia và chính khách La mã Cicero đã viết một câu nổi tiếng, "Socrates kéo triết học từ trời cao xuống đất."

Một số triết gia Tiền Cổ đại đã trình bày quan điểm đạo đức. Thực thế, đa số vũ trụ học Tiền Cổ đại được hình thành trong ngôn từ đạo đức; vũ trụ tưởng chừng như được tổ chức theo luật, và trật tự của nó chính là công lý. Nhưng Socrates không chỉ đề xuất một tập hợp các chủ thuyết đạo đức cụ thể. Trái lại, ông thách thức các luận điểm về tri thức đạo đức, và ông thúc đẩy việc điều tra sâu vào bản chất của các thuộc tính và giá trị đạo đức. Nổi bật hơn hết, ông thách thức người rao giảng đạo đức cùng thời bảo vệ các luận điệu ấy trên cơ sở biện luận thuần lý, và ông gài họ vào các câu hỏi có tính định nghĩa như "Tính thiện là gì?" và "Công lý là gì?"

Sự nhấn mạnh của Socrates vào đạo đức học và vào nhận thức luận về đạo đức học đã có ảnh hưởng mạnh đến mức các học giả hiện đại đã phân định được triết học Tiền Cổ đại, kể cả hoạt động triết học thế kỷ thứ 5 tr. CN về cơ bản không có vẻ nghiêng về đạo đức, là Tiền-Socrates. Trong trường hợp này, tiền-Socrates có nghĩa lô-gíc, hơn là mang nghĩa thời kỳ.

VI. Triết học như là một Lối Sống

Ngày nay triết học Tây phương, phần lớn, là một ngành nghiên cứu biệt lập, hàn lâm, chuyên nghiệp, có mục tiêu mơ hồ là thăng tiến tri thức trong một số lĩnh vực giới hạn (nổi bật nhất là đạo đức học, nhận thức luận, và siêu hình học). Mặc dù cá nhân triết gia hay tiểu ngành triết học có thể mang mục đích đạo đức hay chính trị, nhưng đại thể triết học rõ rệt không có ý nghĩa chính trị hay tâm lý trị liệu. Ví dụ, một nhà nhận thức luận thành danh nổi bật có thể không có ảnh hưởng gì trong chính trị, là một công dân trùm chăn, và là một người không hạnh phúc. Dĩ nhiên, triết gia thường thích việc mình làm. Nhưng những ý tưởng triết học họ thu được thường không đem lại một lời thanh minh về lý thuyết vì sao họ hoạt động hay yêu thích triết học.

Đối lại, triết học Tây phương cổ đại, nhất là kể từ khi hoạt động triết học đạo đức của Socrates bắt đầu, ngày càng tự xác định là sự vun trồng một lối sống mà đối tượng của nó là đạt được an khang hay hạnh phúc (eudaimonia)[8]. Hoạt động triết học, từ đó, có nghĩa chính trị chỉ trong phạm vi một ý niệm nào đó về an khang phù hợp hay đi ngược với các giá trị xã hội và chính trị ước lệ. Thực thế, thường thì, triết học cổ đại nghiên vể hướng phản động. Trong khi triết gia thường không từ bỏ thế giới, nhưng họ thường từ bỏ xã hội hay ít nhất các giá trị của xã hội của họ. Đúng kiểu phản ứng như thế, Socrates bị xử tử vì cố gắng cải tổ xã hội và chính trị. Platon phê phán dân chủ, trong khi ông sống gần như cả đời trong thành phố dân chủ Athens. Các triết gia Epicurus vun trồng một cuộc sống cộng đồng, cố tình tách biệt với chính trường, mà họ cho là quấy nhiễu tâm thần. Triết gia Cynici mạnh dạn bác bỏ các giá trị công ước, và người cha danh nghĩa Diogenes từ Sinope là người đầu tiên tự gọi mình là cosmopolitês, nghĩa là, một công dân của thế giới, chính vì ông bác bỏ giềng mối sắc tộc và trách nhiệm công dân.

Trong khi triết học sau Socrates được tái quan niệm thành đạo đức tự căn đễ và là một lối sống, những triết gia và trường phái sau đó nhập vật lý vào triết học. Sự tái nhập này được thúc đẩy bằng quan điểm cho rằng để hiểu được an khang và nhân thiện cần phải hiểu bản chất con người, và để hiểu bản chất con người cần phải hiểu thiên nhiên và vũ trụ. Do đó, khái niệm về an khang sở dĩ có khác nhau giữa các triết gia và các trường phái là do quan điểm riêng về thiên nhiên và vũ trụ của họ.

Sâu xa hơn nữa, trong bối cảnh Parmenides trên cơ sở nhận thức luận phê phán sự quá bận tâm của tiền bối mình về thiên nhiên và vũ trụ học, nghiên cứu về thiên nhiên tự nó phải được lý thuyết nhận thức luận chống đỡ. Do đó, sự tái nhập vật lý học vào triết học cũng song song với sự tái nhập nhận thức luận một cách tổng quát [vào triết học], và không chỉ là nhận thức luận về đạo đức.

Trong thời kỳ văn hoá Hy lạp, khái niệm về triết học gồm có ba phần, ethika [đạo đức học], physika [vật lý học], và logikê [luận lý học], kết tinh lại. Vật lý cổ đại, khái niệm có phạm vi rộng hơn vật lý học ngày nay, gồm nhiều phần mà thời kỳ Sơ Hiện đại gọi là triết tự nhiên. Thật vậy, từ Hy lạp physika nghĩa hẹp là "vật trong tự nhiên". Luận lý (logikê) gồm nhận thức luận và ngữ nghĩa và cái chúng ta gọi là lô-gíc. Sau cùng, đạo đức học (ethika) gồm chính trị học và nhiều nét của tâm lý học cũng như đạo đức học. Tóm lại, các trường phái triết học cổ đại và các luận điểm tổng quát của chúng có thể làm sáng tỏ và đối lập nhau theo giải đáp của chúng cho ba câu hỏi: "Làm sao chúng ta biết được vũ trụ?", "Bản chất của vũ trụ là gì?" và "Làm sao chúng ta đạt được an khang trong vũ trụ?"

VII. Một vài Nguyên lý Cơ bản của chủ nghĩa Platon, Aristoteles, Epicurus và Stoics

Trong khuôn khổ giới hạn được phép, khó có thể giải thích cách các triết gia và trường phái cổ đại giải đáp ba câu hỏi đưa ra trong cuối phần trên. Nhưng có thể phác hoạ một vài câu trả lời họ đưa ra và cho thấy một vài quan hệ hỗ tương giữa chúng với nhau. Trong cuộc thảo luận này tôi xin tập trung vào Platon, Aristoteles, chủ nghĩa Stoics và Epicurus, và cụ thể về quan niệm của họ về an khang trong quan hệ với vũ trụ luận của họ.

Từ "vũ trụ" (kosmos), dùng trong vũ trụ luận Hy lạp, cần được làm rõ hơn. "Vũ trụ" nói về một thế giới vật chất có trật tự và thống nhất. Trong chủ nghĩa Platon, Aristoteles và Stoics, chỉ có một thế giới như thế: thế giới của chúng ta. Nó gồm có quả đất, mặt trời, mặt trăng, năm hành tinh (Thuỷ tinh, Kim tinh, Hoả tinh, Mộc tinh và Thổ tinh), và cái-gọi-là các chòm sao cố định (rõ nhất là các vì sao hoàng đạo) của bầu trời (một bầu bao bọc vũ trụ và quay theo những trục). Trong chủ nghĩa Epicurus, có vô số thế giới hiện hữu vì có một lượng vô tận vật chất trong vạn vật. Thêm nữa, trong chủ nghĩa Platon, Aristoteles và Stoics, vũ trụ không đồng nhất với vạn vật, nhưng là một cấu phần đích thực của nó. Đối với Platon và Aristoteles, có hữu thể siêu vật chất; trong trường hợp của Platon, cái-gọi-là Khuôn Mẫu[9] và toán thể (trên nó, nói ngắn gọn hơn); và trong trường hợp của Aristoteles, thượng đế. Vị trí của nhóm Stoics phức tạp vì họ chập nhận loại thứ ba có địa vị bản thể học khác biệt với hiện hữu và phi hiện hữu, mà họ liệt vào những thứ như không gian và thời gian. Vượt qua những phức tạp này, đối với nhóm Stoics, cũng như với Platon và Aristoteles, vũ trụ hoàn toàn là vật chất. Sát hơn nữa, hư không không hiện hữu trong vũ trụ. Đối lại, Epicurus cho rằng cả hai, vật chất và hư không là hai nguyên lý cơ bản của vũ trụ luận. Xa hơn nữa, đối với Epicurus, vật chất là nguyên tử, và các [thiên] thể khác là do nguyên tử gộp lại. Đối với Platon, Aristoteles và nhóm Stoics, vật chất là phi nguyên tử, hay liên tục. Do đó, [thiên] thể là tập hợp, không phải bằng cách gộp, nhưng bẳng cách trộn lẫn hay pha. Sau hết, vũ trụ luận của Platon, Aristoteles và Stoics có tính cứu cánh[10]. Nói cách khác, thế giới này được thiết kế hay sắp xếp theo chuẩn mực. Đối với Epicurus, các thế giới là phi cứu cánh.

Tôi đã nói Platon chấp nhận Mẫu và toán thể là các thực thể siêu vật chất. Mẫu của Platon giống như luật phổ quát; tuy nhiên, chúng được quan niệm chính xác hơn là những đặc thể trừu tượng, từ đó các biểu hiện vật chất là những mô phỏng không toàn bích. Ví dụ, xét một lớp ngựa là một loài tự nhiên. Đối với Platon, một bên, có một tập hợp của các con ngựa bằng xương bằng thịt, và bên kia, có một Mẫu Ngựa phi vật chất, là thứ giống như công thức bản thể học toàn hảo để thành một con ngựa; nói cách khác, khái niệm ngựa, chỉ khác một điều là một Mẫu không phải là một thực thể tinh thần. (Trong việc Thiên chúa hoá chủ nghĩa Platon của St. Augustine, Mẫu trở thành ý trong óc của thượng đế, và điều này là một cách giúp chiêm nghiệm ý niệm Mẫu của Platon). Xin ghi nhớ rằng Mẫu đóng cả hai vai trò bản thể học, cái, khi sao nó, các đặc thể là các loài vật chúng là và có thuộc tính chúng mang, và vai trò chuẩn mực, mô thức của loài hay lớp mà các đặc thể và cụ thể là thế giới tự nhiên được tổ chức. Việc Platon nhận một loạt Mẫu rộng như thế đã gây tranh luận. Mẫu của các loài tự nhiên là then chốt trong suy nghĩ của ông, nhưng có vẻ ông cũng nhận có Mẫu của vật tạo tác, cũng như một loạt các thuộc tính, kể cả thuộc tính giá trị luận [11]. Ví dụ, có Mẫu của Công lý và Đẹp. Thêm vào đó, Platon nhận các toán thể như là các sự vật toán, chúng liên kết các thực thể phi toán, là Mẫu. Toán thể gồm số và các sự vật hình học. Ngược với Mẫu, toán thể không đơn nhất. Ví dụ, chỉ có một Mẫu Người, nhưng có vô số toán thể của Số Hai và Hình Tròn. Lý do có sự phân biệt giữa toán thể và Mẫu là để giải thích các chân lý toán học, ví dụ, chân lý toán học của hai lần hai bằng bốn và chân lý hình học là đường chéo chia hình vuông thành hai tam giác bằng nhau.

Aristoteles liên tiếp phê phán việc Platon trên cơ sở bản thể học tách biệt Mẫu ra khỏi các đặc thể cảm nhận được. Đối với Aristoteles, Mẫu có mặt ở khắp nơi trong đặc thể cảm nhận được—trừ một ngoại lệ quan trọng. Nhưng Aristoteles cũng cho rằng thượng đế là một hiện hữu phi vật chất, thường hằng. Thêm nữa, quan niệm của Aristoteles về thượng đế về cơ bản tương đương với quan niệm của Platon về Mẫu. Nghĩa là, thượng đế của Aristoteles, ít nhiều, đồng nhất với tập hợp Mẫu của Platon.

Là nhà duy vật, các triết gia Epicurus và Stoics, về nhận thức luận mà nói, là các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa. Tương phản với họ, Platon và Aristoteles cho rằng không có tri thức về đặc thể cảm nhận được. Mẫu chính là đối tượng của tri thức. Nhưng xin lưu ý, rằng kinh nghiệm vẫn cứ đóng một vai trò trong tiến bộ nhận thức; thật thế, đối với Aristoteles, nó chủ yếu phải thế, vì, ngoại trừ thượng đế, Mẫu toàn tại[12] trong các vật cảm nhận được. Tuy thế, khi đạt được, tri thức không phải là tri thức của các đặc thể cảm nhận.

Đối với Platon và Aristoteles, an khang được xác định là sự phát triển đầy đủ và sự vận dụng lý tính, một bản năng tâm lý đặc thù của con người. Thực hiện lý tính, tức là, trong trường hợp của Platon, tri thức về Mẫu, và trong trường hợp của Aristoteles, chiêm nghiệm về thượng đế. Đã giả thiết Mẫu của Platon là thiêng liêng, thì hai luận điểm này đại thể gặp nhau. Thực thế, trong tổng hợp Tân-Platon, trên hết của triết học Platon và Aristoteles, triết học tự nó được quán niệm như việc nhập thể đồng hoá với thượng đế.

Đối với nhóm Epicurus, an khang là lạc thú; nhưng lạc thú ở đây được quan niệm không phải trên kích thích giác quan, như, thí dụ quan điểm của nhóm Cyrenaicus, nhưng chính ra là một trạng thái tâm lý an bình hay thoát khỏi xao động (ataraxia). Nhóm Epicurus cho rằng con người, thông thường, về cơ bản bị bệnh dịch sợ chết và sợ hành vi trả thù của các thần thánh. Nỗi lo sợ như thế tự nảy sinh ra ham muốn phi lý, làm tổn hại và đau khổ thêm. Triết gia nhóm Epicurus biện luận rằng linh hồn, do các nguyên tử gộp lại, tan rã sau khi chết và do đó không thể là chủ thể của cảm giác, huống chi còn chịu tổn hại hay đau khổ. Hơn nữa, thần thánh, nếu có hiện hữu, cũng đang trong trạng thái an bình, và do đó không thiết tha gì với vấn nạn con người. Hiểu và cám cảnh những sự kiện này của tự nhiên là nuôi dưỡng một trạng thái an bình và làm cho con người có khả năng ham muốn có lý, và từ đó làm vững thêm sự giải thoát khỏi xao động.

Đối với các nhà Stoics, an khang là, như họ nói, sống thuận theo thiên nhiên. Để giải thích câu nói đầy hàm ý này, cần phải nói thêm một chút về vũ trụ luận Stoics. Đối với các nhà Stoics, vũ trụ là một hiện thể sống duy nhất. Hiện thể này có hai mặt, hơi bị gọi nhầm là vật chất và thượng đế. Cả hai, thực ra, đều có xác thân. Tuy nhiên, vật chất thì trơ, bị động, và phi lý tính, trong khi thượng đế thì năng động và thuần lý. Thượng đế bao trùm vật chất. Do đó, vũ trụ về tổng thể, trong một nghĩa nào đó, đồng nhất với thượng đế. Vũ trụ vận động qua một chuỗi sự kiện tái diễn mãi mãi, mà các thời kỳ của nó kết thúc hay bắt đầu, như người ta muốn, bằng những biến động lớn, nghĩa là, sự kiện mà toàn thể vũ trụ bị hoả thiêu. Trong phạm vi các sự kiện của mỗi chu kỳ hoàn toàn được quyết định bởi thiết kế siêu phàm, những người Stoics coi tự do của con người rất giới hạn. Thật vậy, họ nhấn mạnh điều duy nhất chúng ta có quyền lực là đánh giá sự kiện. Thêm nữa, những người Stoics coi đức hạnh, cái họ coi đồng nhất với trí tuệ hay tri thức về vũ trụ, là cái thiện duy nhất. Có đức hạnh làm cho con người tự bố trí đúng vào sự kiện thế gian. Sống theo thiên nhiên nghĩa là sống với hiểu biết đúng đắn về vũ trụ, và theo đó, về những gì trong khả năng của mình (đánh giá của mình) và những gì ngoài khả năng của mình (tất cả những thứ khác).

Chú thích của người dịch

[1] Người dịch cám ơn Lương Thu Hiền (Đại học Temple) và Ts. Vũ Quang Việt (Liên Hiệp Quốc) đã đọc và góp ý sửa bản dịch.
[2] Người dịch dùng tên La-tinh hay Hy lạp nguyên gốc phiên la-tinh. Ví dụ, Socrates thay vì Sô-crát hay Socrate, và Aristoteles thay vì Aristotle hay Aristote.
[3] Từ điển thường gọi là phái Khắc kỷ. Chúng tôi xin để nguyên từ Stoics.
[4] Tiếng Anh, Skepticism. Chúng tôi xin giữ từ "chủ nghĩa hoài nghi".
[5] Có từ điển tiếng Việt dịch là Khuyển Nho. Từ này mang nghĩa thường là yếm thế, khinh thế ngạo vật. Chúng tôi xin để nguyên là Cynici.
[6] Do Phaedo từ Elis sáng lập.
[7] Do Euclides từ Megara, đồ đệ của Socrates, sáng lập.
[8] Tiếng Việt thường dịch là "hạnh phúc". Chúng tôi xin dùng từ "an khang".
[9] Tiếng Anh, Form. Tiếng Việt thường dịch là "hình thức". Cũng có thể dịch nôm na là 匡 "khuôn". Ở đây, chúng tôi xin giữ từ 卯 "Mẫu".
[10] Tiếng Anh, teleological, cứu cánh hoặc mang tính mục đích.
[11] Tiếng Anh, axiological (Hy lạp, αξια, giá trị).
[12] Tiếng Anh, immanent. Tiếng Việt thường dịch là "tự nội", đối lại với "tiên nghiệm" hay "siêu nghiệm" [transcendental]. Chúng tôi xin giữ từ "toàn tại".

 

Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Gladfelter Hall, Room 1016
Temple University Philadelphia, PA 19122 Contact: vietcent@temple.edu