|
CONTENTS
|
 |
Ancient Western Philosophy
— Lịch sử Triết học Tây phương cổ đại (translation)
David Wolfsdorf, Temple University |
 |
History of Western Philosophy: Modern
— Lịch sử triết học Tây phương hiện đại
Syliane Malinowski-Charles, Temple University |
 |
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
— History of Vietnamese Philosophical Thought (translation)
Nguyễn Hùng Hậu, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Vietnamese Philosophy from Nôm Manuscripts
— Triết học Việt Nam qua văn bản Nôm
Ngô Thanh Nhàn, Temple University |
 |
Metaphysics and Epistemology
— Siêu hình học và nhận thức luận |
 |
Western Ethics and Political Philosophy
— Đạo đức và triết học chính trị Tây phương
Shelley Wilcox, San Francisco State University |
 |
Một vài nét về lịch sử tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam
— A Historical Sketch of the Vietnamese Ethical Thought
Nguyễn Thế Kiệt, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia
phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ
— Political Philosophy
in the Period of Building
an Independent and Self-determined Vietnamese Feudalist Nation (translation)
Gs.Ts.Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Academy |
 |
Gender and the Public Sphere: A genealogy from the West
— Giới và Cõi công: Một phả hệ từ phương Tây
Mary Hawkesworth, Rutgers University |
 |
Political Economy: A Brief Overview
— Kinh tế chính trị học tổng quan
Peter Manicas, University of Hawai'I at Mānoa |
 |
The Philosophy of Language and Thought
— Triết lý của ngôn ngữ và tư tưởng
Gerald Vision, Temple University |
 |
Aesthetics
— Mỹ học |
 |
Free Will and Determinism
— Tự ý và quyết định luận
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
The Mind-Body Problem
— Vấn đề tinh thần–thể xác
Clyde Dunton-Gallagher, Temple University |
 |
Relativism
— Chủ nghĩa tương đối
Patrick Denehy, Temple University |
 |
Tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam
— Vietnamese Concepts of 仁義 Humanity and Justice
Dr. Nguyễn Minh Hoàn, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
— The Concept of Vietnamese Patriotism
Prof. Dr. Trần Phúc Thăng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Đạo làm người
— The Dao Theory of Being Human in Vietnam
Dr. Trần Đăng Sinh & Dr. Lê Văn Đoán. Hanoi National University of Education |
 |
Hỗn dung tam giáo ở Việt Nam
— The Unity of Buddhism, Taoism, and Confucianism in Vietnam
Prof. Dr. Nguyễn Thị Nga, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tư duy nội quán (Vipassanā) của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt
—Buddhist deep vision (Vipassanā) and its role in the Vietnamese thinking
Prof. Dr. Hoàng Thị Thơ, Director of Eastern Philosophy Study, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences |
 |
Ý thức cộng đồng Việt Nam
— The Vietnamese Concept of Community Consciousness
Prof. Dr. Trần Văn Phòng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam
— The Spirit of Vietnamese Solidarity
Phạm Anh Hùng, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Chủ quyền quốc gia
— The Concept of National Sovereignty in Vietnam
Prof. Dr. Trần Thanh, Hồ Chí Minh National Political Administrative Academy |
 |
Khảo
cứu triết lý về nhân dân trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam
—The Concept of People in the history of Vietnamese philosophical thoughts
Dr. Trương Quốc Chính, Administrative Academy & Dr. Nguyễn Thuý Vân, University of Social Science and Humanities |
 |
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự
— Toward a more scientific Vietnamese concept of Civil Society
Assoc. Prof., Dr. Trần Hữu Quang, Sociology, Center for Information, Institute for Sustainable Development in Southern Vietnam (Academy of Social Sciences) |
|
|
English-Vietnamese Handbook on Philosophy & Political Economy
Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society
Temple University
|
|
| |
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự*
Trần Hữu Quang
Phó Giáo sư Tiến sĩ Xã hội
học, Trung tâm Thông tin, Viện Phát
triển Bền vững vùng Nam
bộ
Tp. Hồ Chí Minh City, 11 tháng 9, 2008
|
TÓM TẮT
Ở Việt Nam gần đây,
cách hiểu về khái niệm
"xã hội dân sự"
thường chịu ảnh hưởng bởi những
định nghĩa của một số tổ
chức quốc tế. Khái niệm này
có lúc được hiểu như đồng
hoá với các hiệp hội và tổ chức xã hội, có
lúc được coi như một
mô hình tổ chức xã hội dân chủ, tốt đẹp, và lý
tưởng, nhưng cũng có những
tác giả lại coi đây như một "khu
vực thứ ba",
hoặc như một "đối
tác" của nhà nước. Bài viết
này đưa ra một quan niệm khoa
học về "xã hội dân sự",
xét
như một khái niệm khoa học có
thể và cần được sử
dụng trong việc
phân tích lý thuyết đối với thực
tiễn xã hội Việt Nam ngày nay.
-
-
Trước
đây tại các nước xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ "xã
hội dân sự" hầu
như rất hiếm khi được các nhà khoa
học xã hội nhắc
tới.
Ngay cả ở Nga, mãi
cho tới
cuối thập
niên
1980 và đầu
thập
niên
1990, giới nghiên cứu mới bắt đầu đề
cập
tới
khái niệm này (xem Narozhna,
2004).
Ở
Trung Quốc, thuật ngữ "civil
society"
thường
được dịch là "xã hội công dân". "Xã
hội công dân đang dần có một vai trò quan trọng trong
đời sống xã hội Trung Quốc và nó cũng là một chủ đề
thu hút sự thảo luận rộng rãi trong giới học thuật
của nước này" (xem Phùng Thị Huệ, 2007, tr. 25). Chen
Kuide, một tác giả người Trung Quốc, định nghĩa "xã
hội công dân bao gồm cả 'các xí nghiệp tư, các đại
học, báo chí, công đoàn, giáo hội, và tất cả các tổ
chức đứng độc lập với guồng máy nhà nước'."1
Nhưng
ở
Trung Quốc cũng có một quan niệm khác về
xã hội công
dân
so với định nghĩa của
Chen
Kuide:
"'Xã
hội công dân' – một bộ phận nằm ngoài nhà nước và
thị trường, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
kết nối người dân. Với cách thức tổ chức nhỏ gọn,
linh hoạt cũng như có khả năng huy động sáng kiến và
nguồn lực của người dân nhằm phục vụ xã hội, 'xã
hội công dân' có tầm quan trọng chiến lược trong quá
trình tìm kiếm 'con đường trung dung', hay cách thức tránh
sự quá phụ thuộc vào Nhà nước và thị trường để
giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội nghiêm trọng
đang tồn tại hiện nay. (…) Từ
những thay đổi quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, chính
trị và xã hội do các biện pháp cải cách mang lại, các
tổ chức công dân ở Trung Quốc bắt đầu phát triển
nhanh trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Các tổ chức
công dân vốn bị kiểm soát triệt để nhằm phục vụ
mục tiêu của nhà nước trước cải cách, đến nay đã
bắt đầu có được sự tự chủ tương đối và hoạt
động tích cực nhằm thúc đẩy các lợi ích của xã
hội"
(Phùng Thị Huệ, 2007, tr. 25 và 29).
Do sự
phát triển kinh tế mạnh mẽ trong vòng 20 năm qua, nên
nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng sự thay đổi
về cấu trúc của
xã hội chính là kết quả của
những cuộc cải tổ trong lĩnh vực kinh tế (Li Peilin,
2008, tr. 85). Rebecca Moore cho rằng "những thay
đổi
gần đây trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội ở
Trung Quốc, trong đó có sự trỗi dậy của các hiệp hội
hoặc tổ chức xã hội mới (shehui
tuanti)
phần lớn đều là sản phẩm của những cải cách kinh
tế vốn được khởi xướng bởi nhà lãnh đạo Trung
Quốc Đặng Tiểu Bình bắt đầu từ cuối thập
niên
1970" (Moore, 2001).2
Tình
hình ở Việt Nam, nhìn một cách tổng quát, do bối cảnh
lịch sử chính trị-xã hội, cũng phần nào tương tự
như tình hình ở Trung Quốc (xem thêm
Nguyễn
Ngọc Giao, 2009).
Sau hai bài
viết điểm lại một số quan niệm cổ điển cũng như
một số quan niệm đương đại trên thế giới về khái
niệm xã hội dân sự (xem Trần Hữu Quang, 2009a và 2009b),
trong bài
này, chúng tôi muốn
điểm lại một số quan niệm về xã hội dân sự ở
Việt Nam trong những năm gần đây, và sau đó thử đề
xướng một quan niệm xã hội học về xã hội dân sự.
- 1. Những quan niệm về xã hội
dân sự ở Việt Nam
-
Ở Việt Nam, có tác giả thì
cho là xã hội dân sự đã có từ lâu, nhưng cũng có tác
giả lại cho rằng xã hội dân sự chưa từng xuất hiện
trong lịch sử. Đặng Ngọc Dinh viết như sau: "Qua
nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy xã hội dân sự đã tồn
tại ở Việt Nam từ rất lâu. Nói nôm na, đó là các tổ
chức xã hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài các hoạt
động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia
đình, để liên kết người dân với nhau trong những hoạt
động vì một mục đích chung. Như vậy, thành phần quan
trọng của xã hội dân sự là các hội, hiệp hội trong
dân chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng
đồng" (Đặng Ngọc Dinh, 2006, tr. 14).
Nhưng Nguyễn Quân thì lại
cho rằng "ở Việt Nam, xã hội công dân hầu như chưa
xuất hiện dù đã có mấy chục năm thuộc địa 100% ở
Nam Kỳ, chế độ cộng hòa phụ thuộc Mỹ cũng như những
thập niên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc"
(Nguyễn Quân, 2006).
Nguyễn
Thanh Tuấn nhận
định
như sau: "Ở Việt Nam, cho đến nay, mặc dù các văn
kiện Đảng và nhà nước chưa trực tiếp nêu khái niệm
'xã hội dân sự' hay 'xã hội công dân', song trên thực
tế, ở mức độ nhất định, Đảng và nhà nước đã
bước đầu chú ý đến việc xây dựng các thể chế và
cơ sở pháp lý của xã hội dân sự. (…) Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế
quốc tế đã, đang thúc đẩy sự hình thành, phát triển
nhiều ý kiến, thậm chí luồng tư tưởng khác nhau trong
xã hội về vai trò của các tổ chức dân sự trong mối
quan hệ với Đảng Cộng sản và nhà nước pháp quyền"
(Nguyễn Thanh Tuấn, 2007). Trần
Ngọc Hiên
cũng
đưa ra một
nhận
xét
tương tự: "Trên
thực tế, hiện nay đã hình thành rất nhiều các tổ
chức xã hội dân sự như các hội, các ngành kinh tế,
các lĩnh vực khoa học và công nghệ, các lĩnh vực dịch
vụ. Sự thực, một khuôn mặt xã hội dân sự kiểu mới
ở nước ta đang hình thành, có thể coi đó là bước
tiến của nền dân chủ, khác về bản chất với xã hội
trước đổi mới. Tuy vậy, về mặt thể chế, phạm trù
xã hội dân sự chưa được xác định trong văn bản, tức
là chưa dám đặt viên gạch thứ ba (là xã hội dân sự)
tạo cơ sở đầy đủ cho mối quan hệ thể chế kinh tế
chính trị nước ta"
(Trần
Ngọc Hiên, 2008).
Về
yêu cầu hình
thành
xã hội dân sự, hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh
tới điều này như một yêu
cầu
cấp thiết đối với xã hội Việt Nam hiện nay. Phan Xuân
Sơn nói như sau: "Chúng ta từ lâu nêu khẩu hiệu:
'Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra', 'Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ'... Nhưng nếu dân chỉ là những cá thể
đơn độc thì không thể biết, bàn, cũng chẳng thể kiểm
tra, làm chủ. Nếu người dân tập
hợp lại trong các hội đoàn của xã hội dân sự thì
chính những hội đoàn đó sẽ luôn ở thế cân bằng với
nhau, phối hợp với nhau, kiểm soát nhau và cân bằng với
cả nhà nước. (...) Thiếu xã hội dân sự thì quyền lực
nhà nước tuột khỏi tay dân, nhà nước có nguy cơ tha
hoá. (...) Tôi nghĩ đảng cầm quyền mạnh thì không nên
chỉ lo kiểm soát xã hội, ngược lại luôn cố gắng kéo
nhân dân vào quá trình kiểm soát quyền lực, động viên
nhân dân vào quá trình thực thi quyền lực" (Phan Xuân
Sơn, 2006).
Xã
hội dân sự đã có mặt ở Việt Nam từ khi nào, với
hình hài thế nào, các loại hội trong làng xã cổ truyền
có nằm trong khái niệm xã hội dân sự hay không... đó
là những vấn đề thuộc về một chủ đề khác nằm
ngoài tiêu điểm của bài
này. Tuy nhiên, ít ra chúng ta có thể đồng ý với một
nhận xét chung như sau: "Kể từ khi đổi mới, nhất
là từ cuối những năm chín mươi đến nay, cùng với sự
lớn mạnh của thị trường và những điều chỉnh của
nhà nước, xã hội dân sự bắt đầu phát triển mạnh
mẽ với nhiều tổ chức ra đời" (Lê Bạch Dương,
2008).
Tôn
Thất Nguyễn Thiêm viết: "Có thể nói như nhận định
của Joseph Schumpeter (Capitalism,
Socialism and Democracy,
Peter Smith Publishers, 1984) là ‘tính đối trọng’ giữa
nhà nước và xã hội công dân trong chế độ tư bản
tương tự như sự ‘cân bằng giữa mã lực của chiếc
xe và sức chận của cái phanh : xe chạy nhanh mà không
có phanh tốt thì dễ toi đời’. Và ‘tuyệt chiêu’ của
tư bản là nhà nước và xã hội công dân hoạt động
tương tác với nhau: cái này phóng nhanh quá thì cái kia
đạp phanh và cái kia chậm quá thì cái này lại rồ máy
tăng ga’. Nói cách khác, Nhà nước và xã hội công dân
vừa thúc đẩy tính năng động của nhau vừa làm đối
lực cho ‘sức mạnh’ của nhau !" (Tôn Thất
Nguyễn Thiêm, 2006).
Một bài
viết
về
khái
niệm
xã
hội dân sự
trên
tạp chí Cộng
sản
cũng
khẳng
định
rằng "dưới chủ nghĩa xã hội, kể cả trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng cần phải xây
dựng xã hội dân sự" (xem bài
"Xã hội
dân
sự",
2007, xem thêm Trần
Hữu Quang,
2005).
Có
thể
nói
cho đến
nay, hầu
hết
các
ý
kiến
về
xã
hội
dân
sự
trong giới
học
thuật ở Việt Nam đều nhìn nhận vai trò quan trọng và
cần thiết của
thực thể này. Thế
nhưng cần hiểu
thế
nào
là
"xã
hội dân sự"?
Phần
lớn
những
bài
viết
xuất
hiện
trong thời
gian
qua thường
có xu
hướng
thiên về
lối định nghĩa coi xã
hội dân sự
như một
mô
hình
tổ
chức
xã
hội
dân
chủ,
tốt
đẹp, và lý tưởng.
Bài vừa dẫn trên
đây
trong tạp
chí Cộng
sản
cho rằng xã
hội dân sự
"là xã hội của những con người tự chủ, giàu tính
người, đoàn kết thúc đẩy phát triển và thực hành
quyền lợi cộng đồng, chứ không phải những con người
cá nhân vị kỷ, nô lệ cho kinh tế thị trường, nô lệ
cho nhu cầu hám lợi của mình và của người khác"
(bài "Xã
hội dân
sự",
2007). Trong một
bài
phát biểu, cựu chủ
tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng nói rằng : "Tiến
đến xã hội pháp quyền cũng là tiến đến một xã hội
công dân với đặc tính chủ quản, tự tổ chức rất
cao của nhân dân. Khi ấy nhà nước sẽ nhỏ đi, đúng
như Mác nói là 'nhà nước nửa nhà nước'" (Nguyễn
Văn An, 2007). Phan Xuân Sơn cũng cho rằng "xã hội dân
sự bản tính hướng tới chân
thiện mỹ,
là minh
bạch, công khai, công bằng
nên khả năng giám sát, đối trọng cao, hạn chế được
tiêu cực, tham nhũng" [những chỗ nhấn mạnh là do
chúng tôi, THQ] (Phan Xuân Sơn, 2006).
Võ
Khánh Vinh cũng có một cái nhìn mang tính chuẩn
tắc (normative)
về
xã hội dân sự, coi "xã hội dân sự" là một mô
hình xã hội lý tưởng, ở trình độ cao, trong đó có
những chuẩn mực nhất định cần đạt tới,
coi xã hội dân sự là một "nguồn lực xã hội",
là "vốn xã hội" (Võ
Khánh Vinh, 2008, tr. 24-25).
Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là dường như ông rơi
vào quan điểm duy kinh tế khi cho rằng "kinh
tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường tạo
lập
ra cơ
sở nền
tảng,
đặc biệt là nền
tảng
kinh tế cho sự ra đời và vận hành của
xã hội dân sự", và nhất là khi nhấn mạnh rằng
"việc chuyển đổi nhanh chóng đất nước chúng ta
đến nền kinh tế thị trường văn
minh, hiện đại là tiền
đề, điều kiện quan trọng nhất
cho sự hình thành, vận động và phát triển xã hội dân
sự"
[những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, THQ] (Võ Khánh
Vinh, 2008, tr. 24 và 32). Có lẽ quan điểm này cũng tìm
được sự đồng thuận nơi một
số
tác
giả
khác, chẳng hạn Đặng
Ngọc Dinh viết
như sau: [một
xã hội phát triển, trong đó tôn trọng vai trò xã hội
dân sự] sẽ phát triển "song hành với quá trình phát
triển thị trường đích thực. Khi có thị trường đích
thực thì sẽ có tư pháp độc lập, khi đó có nhà nước
pháp quyền đích thực và có thượng tôn pháp luật"
(Đặng Ngọc Dinh, 2006).
Cũng
có nhiều
tác
giả
đồng
hoá
xã
hội
dân
sự
với
các
hiệp
hội
và tổ
chức
xã
hội.
Chẳng hạn, Nguyễn Thanh Tuấn quan
niệm
"xã hội dân sự là lĩnh vực thuộc đời sống xã
hội; bao gồm các tổ chức đoàn thể, hiệp hội với
quy chế dân lập, hoạt động tự quản trên cơ sở Hiến
pháp và pháp luật, để phản biện, giám sát và phối
hợp với nhà nước, nhằm đảm bảo và thực hiện dân
chủ, quyền con người, lợi ích cộng đồng…"
(Nguyễn Thanh Tuấn, 2007).
Phùng
Thị Huệ và Phạm Ngọc Thạch định nghĩa xã
hội công dân là "tổng hòa các tổ chức công dân
hoặc quan hệ công dân ngoài khu vực nhà nước và thị
trường, với thành phần cơ bản là các tổ chức công
dân, bao gồm các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức
xã hội tự nguyện của công dân, các tổ chức cộng
đồng cư dân và các nhóm lợi ích hoặc các phong trào
được tổ chức bởi sự tự nguyện của công dân, hay
còn gọi là 'khu vực thứ ba' giữa nhà nước và xã hội"
(Phùng
Thị Huệ, 2007, tr. 26).
Khi
quan niệm về xã hội dân sự, Đặng Ngọc Dinh nhấn mạnh
đến tính chất "diễn
đàn"
của xã hội dân sự và đưa ra một quan niệm tam
phân
về hệ thống xã hội tổng thể (bao gồm nhà nước, thị
trường, và xã hội dân sự), trong đó xã hội dân sự
là nơi phát huy các phẩm chất "đạo đức",
"tính nhân văn" và "tính cộng đồng".
Ông viết: "Có thể coi xã hội dân sự là diễn đàn,
là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi
chung. Xã hội dân sự hỗ trợ người dân thực thi luật
pháp, đồng thời phản ánh nguyện vọng người dân. Nếu
thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế
thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì xã hội
dân sự vẫn tuân theo pháp luật, tuân theo thị trường,
nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân
văn, tính cộng đồng." Ông nói thêm rằng "không
nên cực đoan hiểu xã hội dân sự là đối lập với
chính quyền, hoặc chính quyền có thể bao trùm hết mọi
việc của người dân cho nên không cần xã hội dân sự.
Có thể nói xã hội dân sự và chính quyền là bổ sung
cho nhau" (Đặng Ngọc Dinh, 2006).
Tác
giả Tương Lai thì hình dung xã hội dân sự như một "đối
tác"
của nhà nước, và nhấn mạnh đến khía cạnh tham gia và
"phản biện" của người dân đối với nhà nước
: "Xã hội dân sự là đối tác bình đẳng của nhà
nước chứ không phải là cái đuôi của nhà nước, về
thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự
tham gia vào việc hoạch định, thực hiện chính sách và
giám sát nhà nước, thực hiện phản biện xã hội đối
với nhà nước, kể cả đối với phẩm chất và hành vi
của viên chức nhà nước" (Tương Lai, 2005).
Cũng
tương tự như Phùng Thị Huệ và Phạm Ngọc Thạch (đã
dẫn trên), Lê Bạch Dương quan niệm xã hội dân sự như
một "khu
vực thứ ba",
bên cạnh nhà nước và thị trường – cả ba cấu thành
nên xã hội tổng thể. Ông viết: "Một xã hội muốn
phát triển được phải dựa vào sự phát triển của ba
khu vực: một là khu vực nhà nước; hai là nền kinh tế
thị trường. Ngoài hai khu vực trên, còn có một khu vực
thứ ba bao gồm các tổ chức, các nhóm, các hình thức
liên minh, liên kết xã hội, không nằm trong cấu trúc
thiết chế của nhà nước, cũng không phải thuộc khu vực
kinh tế tư nhân chạy theo lợi nhuận. Đây là khu vực mà
trong đó những nhóm cá nhân tự nguyện tham gia với những
mục đích hướng tới phục vụ cho các lợi ích của
nhóm và của xã hội. Đó chính là xã hội dân sự"
(Lê Bạch Dương, 2008).
Tuy
nhiên đáng chú ý là có một số tác giả khi đề
cập
tới khái niệm xã hội dân sự, còn đặc biệt nhấn
mạnh tới mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm nhà
nước pháp quyền,
như Trần
Ngọc Hiên, Nguyễn
Trung, Tương Lai.
Trần
Ngọc Hiên phân
tích
như sau: "Ở đâu có kinh tế thị trường thì ở đó
phải có nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Ba bộ
phận đó cấu thành hệ thống của một thể chế kinh tế
chính trị, mà sự hoàn thiện của hệ thống thể chế
hoàn toàn chỉ dựa vào sự liên hệ tương tác với nhau
giữa ba bộ phận. Đó chính là quá trình phát triển chế
độ dân chủ. Không hình thành hệ thống với ba bộ phận
và không có quy chế liên hệ tương tác thì thể chế
kinh tế chính trị chỉ dừng lại ở mong muốn chủ quan,
kinh tế thị trường sẽ trở nên hoang dại. Thể chế
nhà nước sẽ sa vào quan liêu, tham nhũng nặng nề."
Ông còn nói
rõ yêu
cầu
cần "từng bước tổ chức lại bộ máy theo đúng
tính chất nhà nước pháp quyền của dân", bởi lẽ
theo ông,
"vai trò kiểm soát của xã hội dân sự đối với
nhà nước là nhân tố rất quyết định" (Trần Ngọc
Hiên, 2008).
Nguyễn Trung cũng gắn liền
khái niệm xã hội dân sự với khái niệm nhà nước pháp
quyền: "Nhưng để nuôi dưỡng, tiếp tục làm giàu
và phát triển vốn xã hội đã sẵn có, thì còn phải
đồng thời phát triển nhà nước pháp quyền và xã hội
công dân (còn gọi là xã hội dân sự), điều kiện không
thể thiếu cho việc nâng cao phẩm chất công dân. Đối
với những nước đang phát triển tìm đường đi lên,
việc phát triển vốn xã hội trên cơ sở phát triển nhà
nước pháp quyền và xã hội công dân là bảo đảm tốt
nhất loại bớt những hiện tượng hoang dã trên con đường
hướng tới tương lai, là cách trả giá ít nhất những
cái giá phải trả trong quá trình này, và là cách sử
dụng tối ưu nhất, tiết kiệm nhất mọi nguồn lực có
thể huy động được. (...) Có thể nói dứt khoát, tìm
con đường phát triển từ nghèo nàn lạc hậu lên hiện
đại cho một quốc gia trên cơ sở phát huy vốn xã hội,
nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là con đường
tiệm tiến, mang nhiều tính xã hội chủ nghĩa nhất"
(Nguyễn Trung, 2006).
Quyển
Từ
điển xã
hội học
xuất
bản
năm
1994 cũng
đã gắn khái
niệm
xã
hội dân sự
đi đôi với
khái
niệm
nhà
nước
pháp
quyền.
"Xã
hội
công dân"
là
"một
thành tựu to lớn
của
sự
phát
triển
lịch
sử
của
con người",
là
"xã
hội
trong đó các
công dân là
chủ thể của
xã
hội
và do đó của
nhà
nước,
nhà
nước
phục tùng lợi
ích
của
công dân mà không
phải
ngược lại".
"Những
yếu
tố
cấu thành [xã
hội
công dân]
là: sở hữu của
các
công dân với
tư cách
cá nhân, các
quyền
tự nhiên của
con người
và các
quyền
tự
do
cá nhân của
công dân, chế độ dân chủ về
mặt
chính
trị
và nhà
nước
pháp
quyền."
Xã
hội
công dân được
xem như "đối
lập với
xã
hội
toàn trị"
(Nguyễn
Khắc Viện,
1994, tr.
326-330).
Cũng
có tác
giả
tuy
có gắn
khái
niệm
xã
hội dân sự
với
khái
niệm
"nhà
nước
pháp
quyền
xã
hội chủ nghĩa",
nhưng lại hoàn
toàn
bỏ quên những
mối quan
hệ
biện
chứng phong phú giữa
nhà nước với xã
hội dân sự và chỉ nhấn
mạnh tới
vai trò "điều tiết" hay "giữ
vững kỷ cương pháp
luật"
của nhà nước đối với xã hội. Lê Văn Quang viết như
sau: "Quan
hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự là quan hệ giữa
hệ thống thiết chế điều tiết với khách thể của sự
điều tiết ấy; đồng thời, đó còn là quan hệ giữa
bản thân thiết chế với cơ sở xã hội của thiết chế
ấy. (…) Quan hệ giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa với đời sống xã hội dân sự, một mặt, được
thực hiện trực tiếp thông qua quan hệ giữa các cơ quan
chính quyền nhà nước với các công dân; mặt khác, là
quan hệ giữa nhà nước với các định
chế xã hội.
(…) Xét đến cùng, quan hệ giữa nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa và đời sống xã hội dân sự thực
chất là quan hệ giữ vững kỷ cương pháp luật với
phát huy cao nhất quyền dân chủ của quần chúng nhân
dân" (Lê
Văn Quang, 2004).
Nhìn chung
lại, chúng tôi nhận thấy
nhiều
quan
niệm
về
xã
hội dân sự
ở
Việt
Nam
gần
đây
thường
bị ảnh hưởng bởi các
định nghĩa của
các
tổ
chức
quốc
tế
đương đại (điển hình
nhất
là
thường
giản lược hoá
và vì thế đồng
hoá
xã
hội dân sự
với
các
"tổ
chức
xã
hội dân sự"
[CSO]
hay các tổ chức phi chính phủ [NGO]),
và từ đó vô hình
trung tầm thường
hoá
khái
niệm
này
và tước bỏ đi nội
dung
biện
chứng
phong phú của
khái
niệm
này
xét trong mối quan
hệ
với
nhà
nước
– vốn đã từng được
khai triển nơi các
tác
giả
cổ điển. Ngoài
ra, không
ít quan niệm cũng
rơi vào
xu
hướng
huyền thoại hoá
hay công cụ hoá
khái
niệm
này
– tương tự như những quan niệm mà chúng tôi đã lược
thuật trong
bài
trước
(xem Trần Hữu Quang, 2009b).
Như vậy,
trong khuôn
khổ
học
thuật
khoa
học
xã
hội,
vấn đề cần
thiết
là
chúng ta cần xác
định
lại thế
nào
là
"xã
hội dân sự",
xét
như một khái niệm khoa học có thể được sử dụng
trong một công cuộc phân tích lý thuyết đối với thực
tiễn
xã hội Việt Nam ngày nay.
- 2. Thử xác định một khái
niệm xã hội học về xã
hội dân sự
-
Trong
quyển Sociologie
de l'Etat
(Ed. Grasset, 1979), Bertrand Badie và Pierre Birnbaum đã đưa ra
hai mô hình xã
hội dân sự
tiêu biểu đối
lập
nhau, đó là mô hình nhà nước cai quản xã
hội dân sự
(mô hình Pháp), và mô hình xã
hội dân sự
tự tổ
chức, nơi mà nhà nước chỉ có mặt ở mức độ tối
thiểu
(mô hình Anh-Mỹ). Theo Lochak, tuy lược đồ này tỏ ra có
triển vọng vì nó có thể gợi lên nhiều ý
tưởng
mới, nhưng rất tiếc hai tác
giả
trên lại không đưa ra được một định nghĩa rạch ròi
về
xã
hội dân sự để khả dĩ tiếp tục đào sâu sự phân
tích (Lochak,
1986, tr. 67).
Trước
khi thử cố gắng xác định một khái niệm xã hội học
về xã hội dân sự, chúng tôi cho rằng cần giải tỏa
một
số
quan điểm ngộ nhận có liên quan tới
khái niệm xã
hội dân sự.
Trước
hết là ngộ nhận trong nhận thức về
bản chất của
thị
trường,
cho rằng thị trường là một lĩnh vực hoàn toàn độc
lập, nằm ngoài chính trị, chỉ tuân theo những qui luật
riêng
của
nó, được điều hành bởi "bàn tay vô hình", vì
thế nhà nước nhất thiết không được can thiệp vào.
Từ đó, ý niệm về
một thị trường độc lập và tự điều tiết được
trường phái tự do chuyển sang thành ý niệm về
sự độc lập và khả năng tự điều tiết của
xã
hội dân sự
đối với nhà nước. Trong lịch sử, quả là sự phát
triển của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khởi phát từ
quá trình hình
thành
thị trường. Thế nhưng những quyền như quyền tự do
sản xuất (laisser-faire,
"để cho làm"), quyền tự do buôn bán
(laisser-passer,
"để cho đi qua", cũng tương tự như việc bãi bỏ
những qui định "ngăn sông cấm chợ" ở Việt
Nam trước đây), quyền tự do sử dụng tài sản, quyền
tự do hợp
đồng (hay khế ước) hay nói chung nền mậu dịch tự do
hoàn toàn không phải là những cái tự nhiên mà có hoặc
tự động
xuất hiện, mà tất cả đều là sản
phẩm của
những hoạt động của
nhà nước (Lochak,
1986, tr. 49).
Karl
Polanyi trong công trình nổi tiếng
The
Great Transformation
(1944) viết rõ như sau: "Lịch sử kinh tế cho thấy
rằng sự nổi lên của
các thị trường quốc gia hoàn toàn không
phải
là kết quả của
sự giải thoát tiệm tiến và tự phát của
lĩnh vực kinh tế ra khỏi sự kiểm soát của
chính quyền. Ngược lại, thị trường là kết quả của
một sự can thiệp có ý
thức
và thường
mang tính
chất
bạo lực từ
phía chính quyền vốn áp đặt tổ chức thị trường lên
xã hội nhằm vào những mục tiêu phi kinh tế"
(Polanyi, 2001, tr. 258).
Trước
đó, chính Antonio Gramsci cũng từng nêu một nhận xét phần
nào tương tự để phê phán quan điểm của
trường phái tự do kinh tế: "Chúng ta buộc phải
thừa nhận rằng hệ thống mậu dịch tự do chính nó
cũng là một sự 'điều
tiết hoá' [réglementation]
mang dấu ấn của
nhà nước, do các luật lệ và sự cưỡng chế đưa ra và
duy trì: đây
là kết quả của
một ý chí có ý thức về
các mục tiêu của
mình, chứ không phải là sự biểu hiện bột phát, tự
động
của
sự kiện kinh tế. Như vậy, hệ thống mậu
dịch tự do là một chương trình chính trị (programme
politique)
nhằm mục tiêu thay
đổi
nhân sự lãnh đạo của
một nhà nước và thay
đổi
chương trình kinh tế của
chính nhà nước, nghĩa là thay
đổi
sự phân phối thu nhập quốc dân – nếu nó thắng thế"
[tức
là nếu trường
phái tự do kinh tế lên
nắm chính quyền – chú thích của chúng tôi, THQ]
(Gramsci, 1975, tr. 469).
Ngộ
nhận thứ hai là ngộ nhận trong sự phân biệt giản lược
giữa công
và tư,
cũng như trong sự phân biệt máy móc giữa lĩnh vực chính
trị
với lĩnh vực kinh
tế.
Cao Huy Thuần phân
tích như sau: "Chủ
nghĩa tư bản tràn vào câu hỏi đó [thế
nào là công, thế nào là tư, đâu là biên giới giữa
công và tư]
để tách biệt hoạt động kinh tế, hoạt động thương
mại ra khỏi lĩnh vực công, lĩnh vực nhà nước, và
tuyên bố: lĩnh vực kinh tế không phải là lĩnh vực của
nhà nước, đó là lĩnh vực của tư nhân, do đó thị
trường thuộc vào xã hội dân sự. Song song với xác
quyết đó, chủ nghĩa tự do đưa ý thức hệ vào ngay,
quả quyết rằng tự do cạnh tranh mang lại cho xã hội
dân sự khả năng tự điều tiết – với điều kiện là
không được có một can thiệp nào ngoài can thiệp kinh tế
vào những trao đổi kinh tế. Nghĩa là nhà nước không
được can thiệp. Nói như vậy, các lý thuyết gia của
chủ nghĩa tự do mô tả đúng một thực trạng mới,
khuynh hướng mới, diễn ra trước mắt mọi người, nhưng
họ không phải chỉ mô tả, họ còn nâng sự mô tả lên
thành nguyên tắc, quy luật, như thử phát xuất từ bản
chất của sự vật, của thiên nhiên, của chân lý muôn
đời. Từ đó, nhà nước là xấu, vì cưỡng bức ;
xã hội dân sự là tốt, vì tự do. (...) Đứng
về mặt nhận thức khoa học,
không có gì lầm lẫn cho bằng, bởi vì không thể vạch
ra biên giới giữa nhà nước và xã hội dân sự cũng như
không thể vạch ra biên giới giữa chính trị và phi chính
trị"
(Cao Huy Thuần, 2004).
Như
Hegel và Marx đã nói, trong các chế độ phong kiến và
tiền tư bản chủ nghĩa, toàn bộ xã hội đều thuộc về
nhà nước, thuộc về
lĩnh vực chính trị; sau đó, với sự ra đời của
xã hội tư bản chủ nghĩa, các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, văn hoá, tôn
giáo...
dần dà tách ra khỏi lĩnh vực chính trị. Nhưng, theo
Danièle
Lochak, nếu
từ đó mà suy ra rằng có một sự khác biệt về
bản chất giữa
cái gì thuộc về
chính trị và cái gì không, thì đó là một "huyền
thoại".
Lochak
viết
như sau: "Hẳn
nhiên, không
phải
tất cả mọi chuyện đều mang tính
chất
chính trị, nhưng chính trị là một chiều kích cấu thành
nên các cộng đồng con người, thấm nhiễm vào
toàn bộ đời sống xã hội, kể cả đời sống hàng
ngày của
chúng ta, và do đó sẽ là hão huyền nếu có tham vọng
tách nó riêng ra khỏi những cái khác. Vì không thể vạch
ra được cái ranh giới ấy, nên việc định nghĩa xã
hội dân sự
như toàn bộ các mối quan hệ phi chính trị là một định
nghĩa sai lầm về
mặt khái niệm" (Lochak,
1986, tr. 70).
Ngộ
nhận thứ ba là cho rằng xã hội dân sự là một dạng
tổ chức,
một phương
thức tổ chức xã hội
nhất định, hay một mô
hình xã hội
nhất định. Quan niệm này đã lầm lẫn giữa một khái
niệm trừu tượng được dùng để phân
tích
hiện thực xã hội, với một lý
tưởng xã hội
mà người ta nỗ lực vươn tới, và vì thế đã làm cạn
kiệt nội hàm mang tính phân tích học thuật của khái
niệm xã hội dân sự và biến nó thành một thứ ước
mơ hay thậm chí một thứ huyền thoại. Nếu người ta
biện minh rằng dù sao thì vẫn có thể sử dụng khái
niệm xã hội dân sự như một "mô hình xã hội lý
tưởng" để phê phán hiện thực xã hội, thì e rằng
đây chỉ là một sự phê phán đặt nền tảng trên sự
ước mơ (cho dù hết sức tốt đẹp !), chứ chưa phải
là một sự phê phán thực thụ dựa trên vũ khí của sự
phân tích duy lý.
Thường
đi đôi với ngộ nhận trên đây là ngộ nhận thứ tư
quan niệm về xã hội dân sự như một định chế
(institution)
hay một tác nhân xã hội (social
actor),
từ đó mặc nhiên biến xã hội dân sự vốn là một
khái niệm phức hợp dung chứa nhiều quan hệ xã hội,
nhiều giai cấp, tầng lớp và nhiều định chế xã hội
khác nhau, thành một "đối tác" (của nhà nước),
một "lực lượng đối trọng" (với nhà nước
và/hoặc thị trường), hoặc một tổ chức "trung
gian" (giữa nhà nước với cá nhân) – làm như thể
"xã hội dân sự" là một khối người đồng
dạng, đồng quan điểm, bình
đẳng
và phi giai cấp !
Gordon
Marshall nhận xét rằng hiện
nay
có nhiều định nghĩa khác nhau về
xã hội dân sự, tuy nhiên người ta thường
đồng ý về
những đặc
trưng
chính sau đây của
khái niệm xã hội dân sự : (a) khái niệm này nói
về
đời sống công cộng (public)
hơn
là đời sống riêng tư (private)
hay sinh hoạt gia đình; (b) nó nằm ngoài gia đình và nhà
nước; và (c) nó tồn tại trong khuôn khổ nhà nước
pháp quyền (rule
of law)
(Marshall, 1998, tr. 74). Chúng tôi muốn
bổ sung thêm một đặc
trưng
thứ tư: đó là việc định nghĩa khái niệm xã
hội dân sự
nhất thiết không
thể
tách rời khỏi mối quan hệ với nhà nước.
Nếu
đồng ý với những đặc
trưng
trên, thì chúng tôi cho rằng lý
thuyết
của
Antonio Gramsci về
xã
hội dân sự
cho đến nay vẫn là một lý thuyết hữu hiệu và có
nhiều triển vọng nhất đối với việc phân tích các
mối quan hệ giữa
nhà nước với xã hội trong các hệ thống xã hội đương
đại, kể cả ở Việt Nam. Mặc dù Gramsci triển
khai các ý tưởng này khi phân tích đối tượng xã hội
tư bản chủ nghĩa, nhưng khung lý thuyết của ông về nhà
nước và xã hội dân sự vẫn hoàn toàn có thể được
vận dụng một cách xác đáng và phong phú để phân tích
xã hội Việt Nam ngày nay, vốn vẫn còn là một xã hội
có giai cấp.
Xuất
phát
từ lý thuyết của
Gramsci,3
chúng tôi cho rằng
có thể phát triển một định nghĩa tóm tắt về
xã
hội dân sự
bao gồm các vế như sau (định nghĩa mà chúng tôi đề
xuất sau đây không hoàn toàn giống
với định nghĩa của
Gramsci):
| (a) |
Xã
hội dân sự là một khái
niệm
được dùng để chỉ không
gian xã hội công cộng
nằm ngoài nhà nước và ngoài lĩnh vực riêng tư của cá
nhân và gia đình, bao gồm tổng thể các định chế độc
lập tương đối với nhà nước và các hoạt động tự
nguyện trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá,
giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...
(tức bao gồm cả thị trường,
các doanh nghiệp, và các đảng phái chính trị).
|
| (b) |
Xã hội dân sự và nhà nước cấu thành hệ thống xã
hội tổng thể của một nhà nước/quốc gia (tức nhà
nước hiểu theo nghĩa rộng), trong đó nhà nước (hiểu
theo nghĩa hẹp) là nơi thực hiện chức năng cưỡng
chế,
và xã hội dân sự là nơi thực hiện sự thống
lãnh
(hegemony)
hay lãnh
đạo
về
mặt văn hoá-tư tưởng
của giai cấp thống
trị
bằng cách tạo ra sự đồng
thuận
(consensus)
nơi các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội. Vì thế,
xã hội dân sự có những mối quan hệ ít nhiều chặt
chẽ và hữu cơ với nhà nước. Nhưng đồng thời, nó
cũng có tính độc lập tương đối, bởi lẽ nếu không
tạo ra được sự đồng thuận nơi xã hội dân sự, nhà
nước sẽ không còn giữ được sự thống lãnh tư tưởng,
và vì thế tất yếu sẽ mất đi
tính chính đáng (legitimacy)
của mình và chỉ còn nắm được sự cưỡng
chế
mà thôi.
|
| (c) |
Xã hội dân sự là nơi luôn luôn xuất hiện những xung
đột
về lợi ích, và do đó là nơi diễn ra những cuộc đấu
tranh
trên bình diện kinh tế cũng như trên bình diện văn
hoá-tư tưởng giữa các nhóm và các tầng lớp xã hội
với nhau, cũng như giữa giai cấp thống
trị
với các giai cấp và tầng lớp bên dưới.
|
| (d) |
Hình thái xã hội dân sự chỉ xuất hiện khi ra đời
hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa, trong khuôn
khổ của hình
thức
nhà nước hiện đại tương ứng là nhà
nước pháp quyền.
Do đó, xã hội dân sự chỉ thực sự tồn tại khi xác
lập
được một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa và lành
mạnh.
|
Định
nghĩa trên đây về xã hội dân sự, theo chúng tôi, không
phải là một định nghĩa chính trị học hay luật học,
mà là một định
nghĩa xã hội học chính trị
hay triết
học chính trị.
Định nghĩa này coi xã hội dân sự như một khái
niệm phân tích
(concept
analytique),
tức là nó mang tính trừu tượng và trung tính (neutre),
không bao hàm những giá trị hoặc những phán đoán về
giá trị. Nói cách khác, thuật ngữ này chỉ có thể
được sử dụng để khảo sát và mổ xẻ mối quan hệ
giữa nhà nước với xã hội, chứ tuyệt nhiên không thể
được dùng như một ngọn cờ hay một khẩu hiệu hiệu
triệu, bởi lẽ, chúng tôi xin lập lại, nó chỉ là một
khái niệm phân tích chứ hoàn toàn không phải là một mô
hình xã hội lý tưởng nào đó. Mặt khác, thiết tưởng
cũng cần nhắc lại điểm lưu ý của Gramsci khi ông nhấn
mạnh rằng sự phân biệt giữa khái niệm xã hội dân sự
với khái niệm nhà nước là một "sự phân biệt
mang tính phương pháp luận" và cần tránh rơi vào một
"sự phân biệt máy móc" mang tính giản lược.
Đến
đây, chúng ta cũng có thể phân biệt giữa xã
hội dân sự
với xã
hội công dân.4
Định
nghĩa về xã hội dân sự mà
chúng tôi đề xuất trên đây có thể được hiểu như
bao hàm cả hai nghĩa: (a) "xã
hội dân sự"
theo nghĩa rộng, hay nói đúng hơn là theo nghĩa của
Hegel, nhấn mạnh tới tính chất
cộng đồng cá nhân hay "con
người";
và (b) "xã hội công dân", nhấn mạnh tới
tính
chất
cộng
đồng công
dân
của
một nhà nước/quốc gia (citizen,
citoyen,
hay
Bürger).
Xét
về
mặt luật pháp, "xã
hội dân sự"
(theo nghĩa hẹp) là nơi chịu sự chi phối của
những đạo luật liên quan tới
lĩnh vực dân sự, hay nói chính xác hơn
là
lĩnh vực tư
pháp
(droit
privé,
đối
lập
với công pháp, droit
public),
tức lĩnh vực quan hệ giữa
các thể nhân và pháp nhân với nhau (như Luật dân sự,
Luật thương
mại,
Luật lao động...). Khi nói tới
khái niệm "xã hội công dân", người ta chú trọng
tới
vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa
cộng đồng con người có tư cách công
dân
đối với nhà nước/quốc gia, nhưng nội dung này vẫn
nằm trong khuôn
khổ
định nghĩa tổng
quát
về
xã
hội dân sự
(theo nghĩa rộng) mà chúng tôi đã nêu trên.
Đứng
trên bình diện cá nhân, có thể nói rằng mỗi con người
chúng ta đều luôn luôn phải đảm nhiệm ba
tư thế
khác nhau trong cuộc sống của mình: (a) tư thế thành
viên của một gia đình (tư thế này thuộc lĩnh vực đời
sống riêng
tư)
; (b) tư thế một người lao động (tìm kế sinh nhai), một
khách hàng (khi đi chợ chẳng hạn) hay thành viên của một
tổ chức, hiệp hội, đoàn thể (đây là lĩnh vực đời
sống công
cộng)
; và (c) tư thế công
dân
(thuộc về một nhà nước/quốc gia, và xét trong mối
quan hệ với nhà nước/quốc gia). Ngay như một công chức
nhà nước chẳng hạn, sau giờ làm việc ở công sở, cá
nhân anh ta/chị ta vẫn phải đảm nhiệm hàng ngày cả ba
tư thế này: vẫn phải đi chợ, đi đón con, và cũng
không hề được miễn trừ nghĩa vụ công dân của chính
mình đối với nhà nước. Cả hai tư thế b và c đều
diễn ra trong lòng xã hội dân sự.
- Thay lời kết
-
Khi
phân tích về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với
nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam,
Trần Ngọc Hiên nhận xét rằng đường lối chuyển sang
kinh tế thị trường vào năm 1986 đã "đặt viên gạch
đầu
tiên" cho mối quan hệ này, sau đó là "viên gạch
thứ
hai"
với việc xác định ý
tưởng
về nhà nước pháp quyền vào năm 2001 (qua văn kiện Đại
hội IX của Đảng), nhưng cho đến nay vẫn "chưa dám
đặt viên gạch thứ ba (là xã hội dân sự)" để
"tạo cơ sở đầy đủ cho mối quan hệ thể chế
kinh tế chính trị nước ta" (Trần
Ngọc Hiên, 2008).
Trong
khuôn khổ lý thuyết về mối quan hệ giữa nhà nước và
xã hội dân sự, chúng tôi cho rằng, ngay từ năm 1986,
công cuộc "đổi mới" thực chất đã là một
bước ngoặt đánh dấu một tiến trình hoàn toàn mới
trong mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự –
tuy mới chỉ là những thay
đổi
chủ yếu giới hạn trong lĩnh vực kinh tế. Lúc ấy, các
định chế và các hoạt động kinh tế được dần dà
trao trả lại cho lĩnh vực dân sự (thừa nhận quyền tự
do kinh doanh, bãi bỏ những biện pháp ngăn sông cấm chợ,
cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước...). Tuy nhiên, kể
từ đó tới nay, nhiều định chế văn hoá và xã hội
khác vẫn còn chủ yếu nằm trong sự quản lý và
vận hành trực tiếp của nhà nước, tức là vẫn chưa
được dân
sự hoá,
chưa được trao
trả cho lĩnh vực dân sự,
mặc dù cũng đã có những chủ trương như chủ trương
mang tên "xã hội hoá" chẳng hạn.
Cần
lưu ý ngay rằng khái niệm "dân sự hoá" mà chúng
tôi đề
cập
ở đây hoàn toàn không tương ứng với khái niệm "tư
nhân hoá" (mặc dù nội hàm của khái niệm "dân
sự hoá" có thể bao hàm những biện pháp tư nhân
hoá, nghĩa là để cho tư nhân được quyền tham gia hoạt
động, đầu
tư...). Nêu vấn đề "dân sự hoá" ở đây có
nghĩa là đặt lại vấn đề về cấu trúc và về nội
dung hoạt động của các định
chế xã hội
(hiểu theo nghĩa xã hội học, social
institution)
(xem thêm Trần
Hữu Quang, 2005, Cao Huy
Thuần, 2001): nhà nước hay chính quyền ngày nay không phải và không
thể là chủ
thể
của mọi hoạt động xã hội, mà trái lại, trong định
chế nhà trường chẳng hạn, chính thầy giáo mới là chủ
thể của công việc giảng dạy5,
hay trong định chế bệnh viện, chính bác sĩ mới là chủ
thể của công việc chữa trị cho bệnh nhân.
Nhưng
nói như vậy không có nghĩa là nhà nước hoàn toàn không
can dự gì tới những lĩnh vực như giáo dục và y
tế
; ngược lại, nhà nước (trong thời hiện đại) luôn
luôn phải đảm đương trách nhiệm của mình đối với
quyền
được
học tập và được chăm sóc sức khỏe của nhân dân,
thông qua việc dành thích đáng tỷ lệ ngân sách quốc
gia cũng như cung ứng những điều kiện cần thiết khác
như chính
sách,
luật lệ, đất đai... cho những lĩnh vực này. Tuy vậy,
nhà nước lại không phải và không thể là người đứng
ra trực tiếp dạy học hay chữa bệnh cho người dân, mà
chính nhà trường và bệnh viện mới là
những
định
chế
đảm đương những công việc này. Trường công hay bệnh
viện công, tuy là những đơn vị của
nhà nước, nhưng không phải vì thế mà có thể coi chúng
như là những đơn vị nằm
trong
bộ máy hành chính nhà nước. Nhà trường hay bệnh viện
không phải là những tổ chức thuộc về định
chế chính trị
giống như chính phủ, ủy ban nhân dân, các bộ, các sở,
tòa án... mà là thuộc về định
chế giáo dục
và định
chế y
tế.
Chính
vì không phân biệt rạch ròi giữa chức
năng cai trị
(hay cai quản, hay nói theo ngôn từ chính thống hiện nay
là chức năng "quản lý nhà nước" của các bộ,
các sở) với các chức
năng chuyên môn nghề nghiệp
vốn thuộc về các định chế xã hội và văn hoá (tức
thuộc về lĩnh vực xã
hội dân sự)
mà lâu nay vẫn còn tồn tại dai dẳng hiện tượng "nhà
nước hoá" hay "hành chính hoá" nơi hầu hết
các tổ chức văn hoá, giáo dục, xã hội, kể cả các
đoàn thể và hiệp hội. Đặc trưng của tình hình này
cũng gần giống y hệt như tình hình các doanh nghiệp quốc
doanh và tập thể thời bao cấp, đến khi "đổi mới"
mới đặt ra yêu
cầu
tách chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng sản
xuất-kinh doanh nơi các bộ và các sở, hay yêu
cầu
phân biệt rạch ròi giữa cơ quan chủ quản với các đơn
vị trực tiếp sản xuất-kinh doanh.
Cuối
cùng, liên quan tới thực
tiễn
xã hội Việt Nam ngày
nay,
chúng tôi muốn
nói tới hai hệ luận trong số nhiều hệ luận có thể
diễn dịch từ định nghĩa mà chúng tôi đề xuất trên
đây về khái niệm xã hội dân sự.
(a)
Nếu đạt được sự đồng thuận cao, thì các hoạt động
của xã hội dân sự sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc huy
động các năng lực, các sáng kiến và các khả năng khởi
xướng hết sức đa dạng của các tầng lớp xã hội vào
quá trình phát triển đất nước, và từ đó sẽ mặc
nhiên tăng cường cho sức mạnh và tính chính đáng của
chính nhà nước, cũng như củng cố cho sự đoàn kết
quốc gia. Nhưng điều cần nhấn mạnh là sự đồng thuận
này chỉ có thể đạt được nếu xác lập được sự
"thống lãnh" (hegemony)
hay sự "lãnh đạo" về mặt văn hoá—tư tưởng
đối với xã hội dân sự, bằng cách chủ động thiết
lập những điều kiện pháp lý và mở ra những điều
kiện thực tế thuận lợi cho các định chế của xã hội
dân sự cũng như các loại hoạt động tự nguyện đa
dạng được tự do hoạt động. Nguy cơ của tình trạng
đánh mất sự "thống lãnh" này là chỉ còn lại
sự "cưỡng chế" thuần túy của bộ máy nhà
nước đối với xã hội. Sự phát triển lành mạnh và
sôi động của đời sống xã hội dân sự chính là thước
đo của tính chính đáng (legitimacy)
của nhà nước.
(b)
Vì xã hội dân sự là một khái niệm trừu tượng và
phức hợp, chứ không phải là một định chế hay một
tổ chức có hình hài cụ thể theo một mô hình nhất
định nào đó, và vì khái
niệm
này gắn liền hữu cơ với
khái
niệm
nhà
nước
pháp
quyền,
nên nếu
thực sự muốn
phát
triển một
xã
hội dân sự lành mạnh, điều
tiên quyết và mấu chốt là
làm
sao xây dựng cho được
một nhà
nước pháp quyền.
Bởi lẽ, suy cho cùng, chỉ có trong khuôn khổ hình
thức
nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của từ này thì
mới có xã hội dân sự.
Tài liệu tham khảo
Cao Huy
Thuần. 2001. "Định chế: cái 'đã' và cái 'đang' ",
Tạp chí Thời
đại,
số 5, tr. 1-8.
Cao Huy Thuần. 2004. "Xã
hội dân
sự?", Tạp
chí Thời
đại
mới,
số 3, www.tapchithoidai.org/ThoiDai3/200403_CHThuan.htm.
Đặng
Ngọc Dinh. 2006. "Đừng sợ xã hội dân sự !",
Tuổi
trẻ cuối tuần,
21-5-2006, tr. 14-15.
Gramsci
Antonio. 1975. Gramsci
dans le texte
(François Ricci, Jean Bramant, Dir.), traduction de J. Bramant, G.
Moget, A. Monjo, F. Ricci, Paris, Ed. Sociales.
Hjollund
Lene, Martin Paldam, Gert Tinggaard Svendsen. 2001. "Social
capital in Russia and Denmark: A comparative study",
mimeographed.
Lê
Bạch Dương. 2008. "Xã hội dân sự khỏe, nhà nước
khỏe", Pháp
luật TPHCM,
23-4-2008.
Lê
Văn Quang. 2004. "Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ
nghĩa và đời sống xã hội dân sự", Tạp chí Triết
học,
tháng 3-2004.
Li
Peilin, Guo Yuhua, Liu Shiding. 2008. "La sociologie chinoise
face à la transition sociale", in Laurence Roulleau-Berger,
Guo Yuhua, Li Peilin, Liu Shiding (Dir.), La
nouvelle sociologie chinoise,
Paris, CNRS Editions.
Lochak
Danièle. 1986. "La société civile: du concept au gadget",
in Jacques Chevalier et
al.,
La
société civile,
Paris, Presses Universitaires de France, pp. 44-75.
Marshall
Gordon (Ed.). 1998. A
Dictionary of Sociology,
Oxford, New York, Oxford University Press.
Moore
Rebecca R. 2001. "China's fledgling civil society: a force for
democratization?", World
Policy Journal,
Vol. 18, No 1, pp. 56-66.
Narozhna
Tanya. 2004. "Civil Society in the Post-Communist Context:
Linking Theoretical Concept and Social Transformation",
Demokratizatsiya,
Spring 2004.
Nguyễn
Khắc
Viện (chủ
biên).
1994.
Từ
điển xã
hội học,
Hà
Nội,
Nxb Thế giới.
Nguyễn
Ngọc Giao. 2009. "Xã hội dân sự, Trung Quốc và Việt
Nam", Tạp chí Thời
đại mới,
số 15, www.tapchithoidai.org/ThoiDai15/200915_NguyenNgocGiao.htm.
Nguyễn
Quân. 2006. "Vốn xã hội – nguồn lực hay cản trở?", Tạp chí Tia
sáng,
8-5-2006.
Nguyễn
Thanh
Tuấn. 2007. "Xã
hội
dân
sự: từ kinh điển Mác-Lênin đến
thực
tiễn
Việt
Nam
hiện
nay",
Tạp chí Cộng
sản,
số 12 (132).
Nguyễn
Trần Bạt. 2007. "Bàn về xã hội dân sự",
15-8-2007, http://sunlaw.com.vn/dan-su/ban-ve-xa-hoi-dan-su.aspx (truy cập ngày
5-12-2012).
Nguyễn
Trung. 2006. "Bàn về Vốn xã hội", Tạp chí Tia
sáng,
22-4-2006.
Nguyễn
Văn An. 2007. "Xã hội dân sự trong mắt chuyên gia",
Pháp
luật TPHCM,
31-12-2007.
Phan
Xuân Sơn (Nghĩa Nhân phỏng vấn). 2006. "Xã hội dân
sự yếu thì nhà nước yếu", Pháp
luật TPHCM,
21-6-2006, tr. 3.
Phùng
Thị Huệ, Phạm Ngọc Thạch. 2007. "Xã hội công dân
Trung Quốc: cơ sở hình
thành
và môi trường chính
sách",
Tạp chí Triết
học,
số 7 (194), tr. 25-36.
Polanyi
Karl. 2001. The
Great Transformation. The Political and Economic Origins of Our Time
(1944),
Boston, Beacon Press.
Quý
Đỗ. 2006. "Thế nào là 'xã hội công dân'?",
Tạp chí Tia
sáng,
8-5-2006.
Roulleau-Berger
Laurence, Guo Yuhua, Li Peilin, Liu Shiding (Dir.). 2008. La
nouvelle sociologie chinoise,
Paris, CNRS Editions.
Tôn
Thất Nguyễn Thiêm. 2006. "Vốn xã hội nhìn từ tương
quan giữa ba giác độ: nhà nước, thị trường, xã hội
dân chính", Tạp chí Tia
sáng,
12-7-2006.
Trần
Hữu Quang.
2005. "Phát triển các định chế xã hội: Một trong
những tiền đề xã hội của quá trình phát triển ở
thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa
học xã hội,
số 11 (87), tr. 20-26.
Trần
Hữu Quang.
2009a. "Một số quan niệm cổ điển về xã hội dân
sự", Tạp chí Khoa
học xã hội,
số 07 (131), tr. 3-16.
Trần
Hữu Quang,
2009b. "Một số quan niệm đương đại về xã hội
dân sự", Tạp chí Khoa
học xã hội,
số 12
(136), 2009, tr. 13-23.
Trần
Ngọc
Hiên.
2008.
"Kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với
nhà nước pháp quyền và xã
hội
dân
sự
nước ta", Tạp chí Cộng
sản,
số 10 (154).
Tương
Lai. 2005. "Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự",
Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp,
11-2005.
Võ
Khánh Vinh. 2008. "Một
số vấn đề lý luận về xã hội dân sự",
tạp
chí
Khoa
học xã hội,
số 04 (116), tr. 21-35.
"Xã
hội dân
sự".
2007. Tạp chí Cộng
sản,
số 12 (132).
Chú thích
| [*] |
Bài
đã đăng trên Tạp
chí Khoa học xã hội,
số 4 (140), 2010, trang 10-23.
|
| [1] |
Theo Ma Shu Yun, bài viết trong China Quarterly,
số 137, 1994 (dẫn lại theo Quý Đỗ, 2006).
|
| [2] |
Khi bàn luận về việc làm sao xây dựng lại vốn xã hội
ở Nga nói riêng và ở các nước Đông Âu nói chung sau
khi mô hình chủ nghĩa xã hội theo kiểu cũ sụp đổ,
Robert Putnam từng cho rằng phải mất hàng thế kỷ, nhưng
cũng có một số tác giả khác cho rằng chỉ cần vài
chục năm (xem Lene Hjollund, 2001).
|
| [3] |
Lý thuyết của Gramsci về xã
hội dân sự cũng
đã được một
số tác
giả đương đại ít nhiều
vận dụng trong các công
trình nghiên
cứu của
mình, chẳng hạn như P.
Ramasamy, "Civil Society in Malaysia: An Arena of
Contestations?", in Lee Hock Guan (Ed.), Civil
Society in Southeast Asia,
Singapore, Institute for Southeast Asian Studies, 2004; Muthiah
Alagappa (Ed.), Civil
Society and Political Change in Asia: Expanding and Contracting
Democratic Space,
Palo Alto, Stanford University Press, 2004; Ingrid
Landau, "Law and Civil Society in Cambodia and Vietnam: A
Gramscian Perspective", Journal
of Contemporary Asia,
Vol. 38, No. 2, May 2008.
|
| [4] |
Theo chúng tôi, thuật ngữ "xã hội dân sự" tương
ứng với civil
society
(trong tiếng Anh), société
civile
(Pháp) và Zivilgesellschaft
(Đức); còn "xã hội công dân" thì tương ứng
với civic
society
(tiếng Anh), société
civique
hay société
des citoyens
(Pháp) và Bürgergesellschaft
(Đức).
|
| [5] |
Xem thêm Trần Hữu Quang, "Hai căn bệnh trong giáo
dục", Tuổi trẻ, 24-2-2008, tr. 7.
|
|
|
|